- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH CÀ MAU Bản án số: 260/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 11 - 2025 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Minh Hoàng.
Ông Đào Việt Khái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 259/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 430/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thúy K, sinh năm 1992 (xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã N, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13/10/2025, cùng các văn bản kèm theo bà Phạm Thúy K trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn H thành hôn và chung sống với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là xã N, tỉnh Cà Mau) ngày 17/02/2011. Trong quá trình chung sống, thời giam đầu rất hạnh phúc nhưng thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng cũng đã ly thân từ năm 2013 đến nay. Hiện nay bà không còn tình cảm dành cho ông Nguyễn Văn H và không thể tiếp tục sống cùng ông Nguyễn Văn H. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn H.
Về con chung có 01 người con chung tên Nguyễn Phú Q (giới tính nam), sinh ngày 15/12/2011. Hiện con chung Nguyễn Phú Q đang do ông Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu tiếp tục giao con chung cho ông H nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Do công việc làm ăn xa nên việc đi lại khó khăn, bà Phạm Thúy K xin vắng mặt tham gia tố tụng và không có ý kiến gì khác.
Ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời triệu tập xét xử nhiều lần nhưng ông H vẫn không tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai, nhưng ông Nguyễn Văn H vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
Bà Phạm Thúy K xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
[2] Về hôn nhân: Năm 2011, bà Phạm Thúy K và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm thường xuyên tranh cãi. Bà Phạm Thúy K xác định không còn tình cảm dành cho ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thúy K cương quyết ly hôn. Cả hai không còn chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013 cho đến nay. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của bà Phạm Thúy K và ông Nguyễn Văn H không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa bà Phạm Thúy K và ông Nguyễn Văn H đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Đối với yêu cầu của bà Phạm Thúy K, ông Nguyễn Văn H không có ý kiến gì, ông H cũng không tham gia hòa giải thể hiện ý chí không mong muốn đoàn tụ gia đình. Xét cho bà Phạm Thúy K ly hôn với ông Nguyễn Văn H là có cơ sở.
[3] Về con chung: Có 01 người tên là Nguyễn Phú Q (giới tính nam), sinh ngày 15/12/2011. Hiện con chung Nguyễn Phú Q đang do ông Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, bà Phạm Thúy K yêu cầu tiếp tục giao con chung cho ông H nuôi dưỡng. Mặt khác, cháu Nguyễn Phú Q có nguyện vọng sống cùng với ông Nguyễn Văn H nên chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thúy K là phù hợp. Ông Nguyễn Văn H không yêu cầu bà Phạm Thúy K cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thúy K phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phạm Thúy K ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao Nguyễn Phú Q (giới tính nam), sinh ngày 15/12/2011 cho ông Nguyễn Văn H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phạm Thúy K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Phạm Thúy K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thúy K phải chịu 300.000 đồng. Bà Phạm Thúy K đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0001741 ngày 13/10/2025, của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bà Phạm Thúy K và ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Khu vực 3 – Cà Mau; - Phòng THADS Khu vực 3 – Cà Mau (khi có hiệu lực); - Phòng KTNV&THA (TAND tỉnh Cà Mau); - UBND xã Nguyễn Việt Khái, tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |