- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Văn L được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kiều N.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 260/2023/HNGĐ-ST Ngày 15-8-2023 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Việt Xô.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Việt Thắng.
Ông Hồ Quang Minh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cẩm Hường là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 465/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều N, sinh năm 1990 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án anh Nguyễn Văn L trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Kiều N tự nguyện thành hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau vào năm 2015. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do vợ chồng kinh doanh không hiệu quả dẫn đến bất đồng quan điểm, lối sống, không tự giải quyết được và tự sống riêng với nhau, do không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu ly hôn với chị N.
Thời gian chung sống, anh và chị N có 01 con chung tên Nguyễn Bảo C, sinh ngày 29/12/2014, hiện đang ở cùng chị N. Sau khi ly hôn anh đồng ý giao con cho chị N nuôi, anh không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không đặt ra yêu cầu.
Về nợ chung: Không có, nên không đặt ra yêu cầu.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Kiều N trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn L tự nguyện thành hôn vào năm 2013 là đúng, có đăng ký kết hôn như anh L trình bày.
Do kinh tế khó khăn dẫn đến bất đồng quan điểm, lối sống và không thể tiếp tục sống chung được nên chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh L.
Vợ chồng có 01 con chung như anh L trình bày, sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con, yêu cầu anh L cấp dưỡng cho con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật cho đến khi con thành niên.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đặt ra yêu cầu.
Đối với Nguyễn Bảo C là con chung của anh L và chị N có nguyện vọng ở cùng chị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Vụ việc theo yêu cầu của anh Nguyễn Văn L được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị N được xác lập vào năm 2015, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập có hiệu lực nên hôn nhân được xác định là hợp pháp, nay có yêu cầu ly hôn, Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.
Thời gian anh L và chị N chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là bất đồng quan điểm, lối sống, không tin tưởng lẫn nhau và không tự giải quyết được, làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Thời gian kéo dài đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa dịu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, quá trình giải quyết vụ án anh L và chị N thống nhất ly hôn. Thực tế, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của anh L được ly hôn với chị N là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh L và chị N có 01 con chung đang ở cùng chị N, sau khi ly hôn anh L thống nhất giao con cho N nuôi theo yêu cầu của chị N và thực tế con chung của anh chị có nguyện vọng ở cùng chị N. Như vậy, các đương sự đã thỏa thuận việc nuôi con và sự thỏa thuận của các đương sự không trái với quy định của pháp luật, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con cho chị N nuôi.
Xét yêu cầu của chị N về việc cấp dưỡng cho con, Hội đồng xét xử thấy rằng Nguyễn Bảo C, sinh ngày 29/12/2014 là con chung của anh L và chị N nên anh L và chị N phải cùng có trách nhiệm, việc anh L đặt ra quá trình chung sống anh đã xuất tiền ra trả nợ chung xong nên anh không đồng ý cấp dưỡng cho con là không có căn cứ. Bởi lẽ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Xét nhu cầu thiết yếu của việc nuôi con và điều kiện kinh tế của anh L nên buộc anh L cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con thành niên.
Anh L phải chịu lãi suất nếu chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Anh L không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Anh L và chị N không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Anh L và chị N xác định không có và không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Anh Nguyễn Văn L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Phần tạm ứng án phí anh L đã nộp được khấu trừ.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Văn L được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kiều N.
Giấy chứng nhận kết hôn số 04/2015 ngày 06/01/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Chị N nuôi con tên Nguyễn Bảo C, sinh ngày 29/12/2014 hiện đang ở cùng chị, anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đã thành niên.
Kể từ khi chị N có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh L chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng anh L còn phải chịu thêm phần lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị N.
Vì lợi ích của con chưa thành niên nên anh L có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và chị N có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch anh Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng, anh L đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007016 ngày 06/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ.
Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (cấp dưỡng) anh Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Trần Văn Thời; - Chi cục THADS huyện Trần văn Thời; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - UBND xã Trần Hợi (Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Việt Xô |