vanban.org

Bản án 260/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của bà Nguyễn Thị Thanh Th.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh Th được ly hôn với ông Phạm Thế V. Về con chung: Có 01 con chung là Phạm Nguyễn Hà M, sinh ngày 13/10/2009. Ly hôn. giao bà Nguyễn Thị Thanh Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Phạm Nguyễn Hà M. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của bà Nguyễn Thị Thanh Th.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 260/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09/8/2022.
Về việc: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thiều Thị Phi Loan

2. Ông Trần Văn Chánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 354/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2022/QĐXX-ST ngày 29 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 306/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19/7/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1988;

Địa chỉ: 19C, tổ 88, khu phố 13, phường HN, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Phạm Thế V, sinh năm 1986;

Địa chỉ: 22B/82, khu phố 12, phường HN, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

(Bà Th có đơn xin vắng mặt; ông V vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bà Nguyễn Thị Thanh Th trình bày:

Bà và ông Phạm Thế V tự nguyện kết hôn với nhau, cả hai có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hố Nai, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai vào năm 2009. Trong thời gian đầu, vợ chồng sống tạm gọi là hạnh phúc. Tuy nhiên, đến những năm gần đây thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông V không lo làm ăn mà còn sa vào những thú vui riêng của bản thân (sử dụng ma tuý), nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, bà cảm thấy rất mệt mỏi, nhiều lần bà cố gắng hàn gắn, khuyên bảo nhưng không thể, việc sống chung không thể kéo dài và trên thực tế bà và ông V đã sống ly thân với nhau được hơn hai năm nay. Vì vậy, bà Th yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V.

Về con chung: Có 01 con chung là Phạm Nguyễn Hà M, sinh ngày 13/10/2009. Ly hôn, bà Th có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu M, bà không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đối với bị đơn; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nhưng bị đơn không đến Tòa án làm việc, không có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, ông Phạm Thế V vẫn vắng mặt.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đúng.

Việc tuân theo pháp luật của các bên đương sự: nguyên đơn thực hiện đúng; bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo pháp luật tố tụng dân sự quy định.

+ Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các tài tiệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án xét thấy yêu cầu xin ly hôn của bà Th là có cơ sở, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Th, giải quyết cho bà Th được ly hôn với ông V.

Về con chung: Đề nghị giao bà Th được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con Phạm Nguyễn Hà M, sinh ngày 13/10/2009. Tạm thời ông V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Do ông V vắng mặt và không có lời khai, đề nghị không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

- Về án phí HNGĐ-ST: Bà Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Ông Phạm Thế V, cư trú tại địa chỉ: 22B/82, khu phố 12, phường HN, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa có thẩm quyền giải quyết.

Về thủ tục tố tụng:

Đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh Th đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phạm Thế V, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Th và ông V tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 170/KH/TP ngày 20/7/2009). Căn cứ Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy, bà Th nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với ông V, theo bà Th trình bày nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do ông V không lo làm ăn nhưng lại sử dụng chất ma tuý, mặc dù đã nhiều lần bà khuyên bảo, tạo cơ hội để ông V sửa đổi nhưng ông V vẫn không từ bỏ ma tuý, khiến cho cuộc sống hôn nhân của vợ chồng như rơi vào địa ngục, cuộc sống vợ chồng không thể hoà hợp, việc sống chung không thể kéo dài và trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân được 02 năm nay, tình cảm vợ chồng không còn với nhau.

Qua xác minh về việc mâu thuẫn vợ chồng tại địa phương nơi cư trú của ông V, bà Th mặc dù địa phương không nắm rõ mâu thuẫn của vợ chồng, nhưng thực tế hiện nay thì vợ chồng bà Th, ông V đã không còn chung sống với nhau. Từ đó có thể thấy rằng nguyên nhân và lý do và Th yêu cầu được ly hôn với ông V là có cơ sở. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông V vẫn vắng mặt không lý do, chứng tỏ ông V đã tự bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Th, giải quyết cho bà Th được ly hôn với ông V để trả tự do cho cả hai người.

Về con chung: Có 01 con chung là Phạm Nguyễn Hà M, sinh ngày 13/10/2009. Ly hôn, bà Th có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập lời khai của cháu M, nguyện vọng của cháu xin được ở với bà Th. Vì vậy, giao cho bà Th là người được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Phạm Nguyễn Hà M là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con, bà Th không yêu cầu, nên tạm thời ông V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Bà Th trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật quy định.

Về tài sản chung và nợ chung: bà Th khai không có và không yêu cầu Toà án giải quyết. Tuy nhiên, do không có lời khai của ông V nên tài sản chung, nợ chung, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6.] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bà Nguyễn Thị Thanh Th phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 266, 271, 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của bà Nguyễn Thị Thanh Th.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh Th được ly hôn với ông Phạm Thế V.

2. Về con chung: Có 01 con chung là Phạm Nguyễn Hà M, sinh ngày 13/10/2009. Ly hôn. giao bà Nguyễn Thị Thanh Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Phạm Nguyễn Hà M.

Tạm thời ông Phạm Thế V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Bà Th trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật quy định.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, theo biên lai thu số 0001335 ngày 08/02/2022.

5. Bà Nguyễn Thị Thanh Th và ông Phạm Thế V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ