vanban.org

Bản án 260/2021/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 16/06/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/06/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Phạm Văn T và giữ nguyên bản

án s thẩm. Xử phạt: Phạm Văn T 08 (Tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời gian Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Phạm Văn T và giữ nguyên bản
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 260/2021/HSPT
Ngày: 16-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Liêm

Các thẩm phán:

Ông Trương Minh Tuấn

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp

cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Hải Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét

xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 274/2021/TLPT-HS ngày 20

tháng 4 năm 2021 đối với b cáo Phạm Văn T về tội “Giết người”. Do có kháng

cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 11/2021/HSST ngày 15-3-

2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số

1330/2021/QĐXXPT-HS ngày 26 tháng 5 năm 2021.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Văn T (X), sinh ngày 25/9/1979, tại tỉnh Quảng Bình; N i

ĐKHKTT: tỉnh Quảng Bình; Chỗ ở: tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: làm nông; trình

độ văn hóa: không biết chữ; Con ông: (Không xác đ nh) và bà Phạm Th D

(chết); b cáo sống chung như vợ chồng với ch Nguyễn Th T, không có con.

Tiền án, tiền sự: không. B tạm giữ, tạm giam ngày 21/8/2020; Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Tống Đức N, Luật sư - Văn phòng

luật sư H thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai bào chữa cho b cáo Phạm Văn T theo

yêu cầu của gia đình b cáo; Đ a chỉ: tỉnh Gia Lai; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 17/8/2020, tại nhà anh Mai Sỹ N thuộc xã I,

huyện D, tỉnh Gia Lai tổ chức ăn giỗ và có mời một số khách đến tham dự gồm: Phạm Văn T, Trần Xuân H, Trư ng Hữu T1, Hồ Viết D, Mai Tùng S, Lê Duy S, Trần Văn T2. Sau khi ăn giỗ xong đến khoảng 12 giờ 30 phút, Phạm Văn T cùng những người trên rủ nhau đến quán bi da X thuộc thôn M 1, xã I, huyện D, tỉnh Gia Lai để ch i bi da (khi đi Phạm Văn T để lại xe nhà anh Mai Sỹ N). Tại quán bi da thì Phạm Văn T và Mai Tùng S một cặp, anh Lê Duy S và Hồ Viết D một cặp, còn anh Trư ng Hữu T1, Trần Xuân H và Trần Văn T2 đứng xem và làm trọng tài. Quá trình đánh, khi đánh bi da phăng thì Phạm Văn T thắng, đánh bi da lỗ thì Phạm Văn T thua (lúc này anh Trần Văn T2 đi về) nên mọi người thỏa thuận đánh một trận chung kết, nhưng không thống nhất được việc đánh bi da phăng hay lỗ nên giữa Phạm Văn T và anh Trần Xuân H xảy ra mâu thuẫn có lời qua, tiếng lại với nhau và được mọi người can ngăn nên T tức giận và vứt cây c bi da xuống nền nhà rồi bỏ đi và quay lại nhà anh Mai Sỹ N để lấy xe, khi đi T gặp Lê Khắc A (trú tại: thôn M 2, xã I, huyện D, tỉnh Gia Lai) nên T nhờ Lê Khắc A chở về nhà anh N để lấy xe. Sau khi chở T về nhà anh N thì Lê Khắc A đến quán bi da X để xem đánh bi da. T vào nhà anh N lấy xe thì trên gác baga xe máy của T có 01 con dao (con dao do T mua trước khi đi ăn đám giỗ với mục đích mua để sử dụng trong sinh hoạt gia đình) loại dao tông, mũi nhọn, sắc, dài 40 cm. Bực tức việc mâu thuẫn với anh H trước đó nên T điều khiển xe máy mang theo con dao quay lại quán bi da X. Trên đường đi con dao b r i xuống đường nên T nhặt lên giắt vào thắt lưng phía trước. Khi đến n i, T dừng xe ngoài sân, trên tay T cầm theo con dao đi vào bên trong gặp H, T hỏi “Sao lúc nãy đòi đánh tao?”, thấy T cầm dao nên anh H quay người cầm cây bida thì từ phía sau T tay trái dùng dao đưa dao qua đầu chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải trúng vào vùng đầu phía sau của anh H. Do b chém nên anh H quay người lại ở tư thế đối diện T đồng thời đưa tay phải lên nắm giữ tay trái T để giằng lại thì T dùng tay phải lấy con dao đang cầm ở tay trái tiếp tục đưa dao qua đầu nhằm vào vùng đầu của anh H và chém tiếp 01 nhát, hướng từ trên xuống trúng vào đỉnh đầu của anh H. T đang đưa dao lên đ nh chém tiếp thì anh H đưa tay trái lên nắm giữ phần lưỡi dao. Thấy vậy, Lê Khắc A chạy tới đưa tay phải nắm giữ cổ tay phải T. Quá trình giằng co con dao trên tay T anh H b con dao cắt vào phần mặt lòng bàn tay trái, anh A b dao cắt ở phần mềm cẳng tay phải. Lúc này, Lê Khắc A cùng những người có mặt tại đây can ngăn và anh H giằng được con dao trên tay T nên T bỏ chạy, anh H cầm con dao của T và cây c bi da đuổi theo nhưng ra tới sân anh H b chảy máu nhiều nên ngất đi và được anh

Lê Khắc A chở đi bệnh viện huyện D cấp cứu. Sau đó khi gây án Phạm Văn T

đã về nhà rẫy của mình thuộc Làng Bi, xã I, huyện D, tỉnh Gia Lai và có kể lại

việc mâu thuẫn và chém anh H cho vợ là ch Nguyễn Th Ty (sống chung với

nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn) và được ch Ty động viên ra đầu

thú. Đến ngày 21/8/2020, Phạm Văn T đã đến Công an huyện D đầu thú. Tại C

quan điều tra, Phạm Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Đối với anh Trần Xuân H sau khi b chém đã được đưa đến Trung tâm Y tế

huyện D cấp cứu, do vết thư ng nặng nên anh Trần Xuân H được chuyển lên

Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai cấp cứu và điều tr . Đến ngày 24/8/2020 xuất

viện về nhà.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 185/20/TgT

ngày 27/8/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, kết luận đối với anh Trần

Xuân H:

1. Dấu hiệu chính qua giám đ nh:

- Một sẹo vết thư ng phần mềm vùng đỉnh chẩm trái kích thước

(6x0,3)cm, sẹo liền, còn đóng vảy, xung quanh còn sưng nề: 2%.

- Một sẹo vết thư ng phần mềm vùng giữa đỉnh kích thước (6,5x0,2)cm,

sẹo liền: 2%.

- Một sẹo vết thư ng phần mềm mặt lòng xư ng bàn II bàn tay trái kích

thước (2,5x0,1)cm, sẹo liền: 1%.

2. Tỉ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên tại thời điểm giám đ nh

là 5% (năm phần trăm). Áp dụng phư ng pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-

BYT.

Tại Bản án h nh sự sơ th m s 11/2021/HSST ngày 15/3/2021, Tòa án

nhân dân tỉnh Gia Lai đ quyết định:

1. Về tội danh:

Tuyên bố b cáo Phạm Văn T phạm tội “Giết người”;

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều

51; Điều 38; Điều 15; khoản 3 Điều 57 BLHS năm 2015.

Xử phạt b cáo Phạm Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình

phạt tù tính từ ngày 21/8/2020.

Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần xử lý vật chứng, án phí

và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Ngày 23/3/2021, b cáo Phạm Văn T có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình

phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo Phạm Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng

cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Hội đồng

xét xử không chấp nhận kháng cáo của b cáo Phạm Văn T và giữ nguyên bản án s thẩm.

Lời bào chữa của luật sư cho b cáo Phạm Văn T nhất trí về phần tội danh

và khung hình phạt mà Tòa án cấp s thẩm áp dụng để xét xử đối với b cáo Phạm Văn T. Luật sư cho rằng, b cáo Phạm Văn T không có tình tiết tăng nặng mà có nhiều tình tiết giảm nhẹ, người b hại có phần lỗi, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của b cáo Phạm Văn T giảm cho b cáo T một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:

B cáo Phạm Văn T khai nhận: Vào ngày 17/8/2020, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ

trong lúc đánh bida Phạm Văn T đã dùng dao chém 2 nhát vào vùng đầu của anh Trần Xuân H. Trong đó, một nhát trúng vào vùng đầu phía sau và một nhát trúng vào đỉnh đầu của anh H. Theo kết luận giám đ nh anh H b thư ng tích với tỷ lệ 5%.

Như vậy, Phạm Văn T dùng dao là hung khí nguy hiểm, chém vào vùng

đầu là n i trọng yếu trên c thể con người. A H không chết là do anh H chống đỡ và được anh Lê Khắc A can ngăn đưa anh H đi cấp cứu k p thời.

Hành vi nêu trên của b cáo Phạm Văn T đã b Tòa án nhân dân tỉnh Gia

Lai xét xử về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bản án s thẩm đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ phạm tội, đồng

thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho b cáo Phạm Văn T như: Sau khi gây án ra đầu thú; thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tác động với gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại và được người b hại xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình b cáo thuộc hộ nghèo, ông ngoại của b cáo là người có công với nước. Ngoài ra cũng xem xét phần lỗi của người b hại do thiếu kiềm chế dẫn đến cải vã cũng là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và xử phạt Phạm Văn T với mức án 08 năm tù, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy đ nh là đã chiếu cố giảm nhẹ. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không chấp nhận kháng cáo của b cáo Phạm Văn T cũng như lời bào chữa của luật sư cho b cáo và giữ nguyên bản án s thẩm.

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên b cáo Phạm Văn T

phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh

nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự

1. Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Phạm Văn T và giữ nguyên bản

án s thẩm.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 15; Khoản 1 Điều 54; Điều 57 BLHS năm 2015.

Xử phạt: Phạm Văn T 08 (Tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời gian

chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/8/2020.

2. Về án phí: Phạm Văn T phải ch u 200.000 đồng án phí hình sự phúc

thẩm.

3. Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm về phần xử lý vật chứng, án

phí không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời

hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ