- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Minh N- Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 260/2020/HS-ST Ngày 17 - 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Ngọc Hồng.
Bà Lê Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Tứ – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 239/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 269/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Võ Minh N, sinh năm 1984 tại thành phố Cần Thơ; nơi cƣ trú: Ấp C, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn N và bà Lê Thị D, bị cáo có vợ tên Vƣơng Mai H và 01 ngƣời con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/4/2020.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Phan Văn T, sinh năm 1991, nơi cƣ trú: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; tạm trú: 31/1/15 khu phố Đ, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Bản thân Võ Minh N không có nghề nghiệp ổn định, đã nảy sinh ý định tìm tài sản của ngƣời khác để sơ hở lấy trộm đem bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 29/4/2020, N đi bộ từ khu vực phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đến trƣớc ki ốt số 6 địa chỉ số 31/1/15, khu phố Đồng An 3, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, biển số: 38K1-9338 của ông Phan Văn T đang dựng ở trƣớc ki ốt không có ngƣời trông coi. Lúc này, N lén lút đến nhìn thấy xe mô tô không có chìa khóa, không nổ máy đƣợc nên đã đẩy chiếc xe mô tô biển số: 38K1-9338 của ông T đi đƣợc khoảng 100 mét thì lực lƣợng Công an phƣờng Bình Hòa tuần tra phát hiện, nghi vấn nên đƣa về Công an phƣờng Bình Hòa làm việc. Tại đây, N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ kết luận định giá tài sản và biên bản định giá ngày 07/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: Tài sản bị chiếm đoạt là 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, biển số: 38K1-9338 có trị giá 5.000.000 đồng.
Cáo trạng số 249/CT-VKS-TA ngày 19/8/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Võ Minh N về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội nhƣng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo N mức án từ 07 tháng đến 09 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng.Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả cho ông Phan Văn T xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, kiểu Sirius, biển số: 38K1-9338.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình bị cáo xin đƣợc hƣởng án treo để có điều kiện làm lại cuộc đời.
Bị hại trình bày nội dung sự việc nhƣ cáo trạng truy tố và xác định xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, biển số: 38K1-9338 mà bị cáo chiếm đoạt là của ông Tài mua lại của ông Trần Quang Tuyến nhƣng không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu trên giấy đăng ký xe, nay ông Tài xin nhận lại xe và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Minh N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và tài sản đã chiếm đoạt. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Do thất nghiệp không có tiền tiêu xài nên vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 29/4/2020, tại địa chỉ trƣớc ki ốt số 6 địa chỉ số 31/1/15, khu phố Đồng An 3, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng bị cáo đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, biển số: 38K1-9338 của ông Phan Văn T trị giá 5.000.000 đồng. Hành vi bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi và muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý phạm tội. Do đó khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, cân nhắc và áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo và hoàn cảnh phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhƣng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo đƣợc hƣởng tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm h,i s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, việc bị cáo phạm tội do dịch bệnh COVID dẫn đến thất nghiệp, không có việc làm, không có thu nhập, do cùng quẫn nên phát sinh tội phạm, bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có địa chỉ cƣ trú rõ ràng, việc không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội không gây nguy hiểm nên không cần cách ly bị cáo mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo tự cải tạo, giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú giám sát giáo dục theo quy định pháp luật.
Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.
Về vật chứng trong vụ án: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, biển số: 38K1-9338 mà bị cáo chiếm đoạt và đƣợc thu giữ trong vụ án. Qua điều tra xác định ngƣời đứng tên trên giấy đăng ký xe mô tô là ông Trần Quang Tuyến, sinh năm 1982, nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Thôn Bắc Sơn, xã Kỳ Phong, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Ông T khai nhận mua lại xe mô tô của ông Tuyến nhƣng không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu trên giấy đăng ký xe. Quá trình xác minh ông Tuyến đã đi khỏi nơi cƣ trú hiện chƣa lấy lời khai đƣợc và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã thông báo truy tìm ngƣời liên quan đến chiếc xe nhƣng không có ngƣời liên hệ giải quyết, xe không phải là vật chứng trong vụ án khác, nên trả lại xe cho ông T, nếu có tranh chấp về chiếc xe này thì giải quyết ở vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Khoản 4 Điều 328; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Minh N phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt Võ Minh N 07 (bảy) tháng tù, cho hƣởng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án là ngày 17/9/2020. Giao bị cáo N cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tuy, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tuy phải thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang để tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trả tự do cho bị cáo Võ Minh N tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Trả cho ông Phan Văn T xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, kiểu Sirius, biển số: 38K1-9338, màu sơn đen-bạc, số khung RLCS5C6309Y9561, số máy 5C63209565.
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2020)
3. Về án phí: Bị cáo Võ Minh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THA thành phố Thuận An; - CQCSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - UBND xã Vĩnh Tuy, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang; - Bị cáo; - Bị hại; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Sỹ Trứ |