- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn U - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 260/2019/HS-PT Ngày: 16-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm
Ông Bùi Văn Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 222/2019/TLPT-HS ngày 11 tháng 9 năm 2019 đối v i bị cáo Nguyễn Văn U do có kháng cáo của bị cáo đối v i bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2019/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện LV.
- cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn U (U Nổ), sinh năm 1989 tại t nh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số 31x ấp PH, xã PL, huyện CT, t nh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Võ Thị S; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 người b hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng ngh .
NỘI NG V N
Theo các tài iệu có trong h s vụ án và di n bi n tại phi n tòa, n i dung vụ án đư c tóm t t như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19/8/2018, Nguyễn Văn U (tên gọi khác là U Nổ) đến nhà của Lê Trung D (tên gọi khác là Đ) tại 441B/3, ấp ĐT, xã ĐH, huyện LV, t nh Đồng Tháp để dự đám giỗ, U ngồi ăn, uống bia và hát karaoke cùng v i D, Trương Nhật Tr, Lê Văn Nh và một số người khác ở phía trư c sân nhà. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, anh Lê Hữu H đi uống rượu về đến nhà ở đối diện v i nhà của Lê Trung D, nghe có tiếng hát karaoke âm lượng l n phát ra từ phía nhà của anh D nên anh H ra đứng trư c sân, cách sân nhà của D khoảng 10 mét nói l n: “Mấy ông n i i, vặn âm thanh nhỏ ại cho con cái của tôi ngủ”, anh Trương Nhựt Tr nghe H nói vậy nên đi sang nhà nói v i H: “Thôi anh vào nhà ngủ đi, để tôi k u vặn âm thanh nhỏ ại”. Lê Trung D nghe Lê Hữu H nói l n tiếng nên đứng trong sân nhà trả lời: “Giờ này chưa tới giờ giới nghi m, nhà tao thì tao hát, mầy a cái gì”, anh H trả lời lại: “Tụi bây à ông n i xứ này hả gì mà giờ này còn hát karaoke”. Lê Hữu H và Lê Trung D tiếp tục cự cãi v i nhau, khoảng 05 phút sau thì H ra đứng phía trư c cổng rào của D chửi và thách thức đánh nhau v i D, D từ trong sân nhà mở cổng rào đi lại đứng đối diện v i H, D dùng tay phải đấm trúng một cái vào vùng má bên trái của H, không gây thương tích. Nguyễn Văn U cũng nghe tiếng Lê Hữu H chửi về việc hát karaoke làm ồn nên tức giận đi từ trong sân nhà ra đứng đối diện v i H, cách khoảng 01 mét, U rút dây thắt lưng ra, cầm phần đuôi dây thắt lưng, đầu kim loại thả tự do đánh hư ng từ trên xuống trúng một cái vào vùng đầu của Lê Hữu H, làm đầu H bị rách da, chảy máu. Chị Huỳnh Thị Kiều M (vợ của anh Lê Hữu H) từ trong nhà mình thấy H bị đánh nên chạy ra can ngăn và kéo tay H về nhà, Nguyễn Văn U cầm dây thắt lưng tiếp tục đánh từ trên xuống, hư ng về phía H nhưng phần đầu dây thắt lưng bằng kim loại trúng vào vùng đ nh thái dương, bên trái của chị M làm rách da, chảy máu. Lê Văn Nh từ trong sân nhà của D nhìn ra phía trư c cổng rào thấy có người đánh nhau (không biết rõ là ai đánh), nghĩ là có người đánh D nên đi vào trong bếp lấy 01 con dao yếm, cán dao bằng gỗ, dài 37,5cm mang ra để đe dọa nếu có người đánh D nhưng khi Nh ra đến cổng rào thì ông Lê Hoàng Việt (cha của Lê Trung D) nhìn thấy, giật lấy lại con dao yếm, can ngăn và đẩy Nh đi trở vào trong nhà. Được ông Lê Hoàng Việt, Trương Nhật Tr và một số người khác can ngăn nên Lê Trung D và Nguyễn Văn U đi về nhà của D, còn anh Lê Hữu H và chị Huỳnh Thị Kiều M được người thân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Sa Đéc và chuyển lên Bệnh viện Chợ Rẫy để điều trị, đến ngày 24/8/2018 thì xuất viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 289/TgT-TTPY, ngày 06/9/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế t nh Đồng Tháp kết luận thương tích của Lê Hữu H như sau: Sẹo vết thương phần mềm, số lượng sẹo ít, kích thư c nhỏ, thương tích do vật tày gây nên có tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 02%.
Tại bản kết luận giám định pháp ý về thương tích số 311/TgT-TTPY ngày 20/9/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế t nh Đồng Tháp kết luận thương tích của Huỳnh Thị Kiều M như sau: Sẹo vết thương phần mềm vùng đ nh – thái dương trái; Chấn thương vùng đầu gây máu tụ ngoài màng cứng đ nh trái đã được phẫu thuật điều trị ổn định, thương tích do vật tày gây nên có tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 22%.
Tại bản án số 23/2019/HS-ST ngày 29/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện LV đã quyết định:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 07 tháng 8 năm 2019, bị cáo Nguyễn Văn U có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn U bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối v i bị cáo là phù hợp. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v i lý do mức án cấp sơ thẩm quá cao và cung cấp thêm một số tài liệu m i như Giấy khen của mẹ bị cáo bà Võ Thị S có thành tích xuất sắc trong công tác Hội, bản thân bị cáo được tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, đây là tình tiết giảm nhẹ được xem xét ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét khi áp dụng mức hình phạt đối v i bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn U, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối v i bị cáo. Ngoài ra, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện LV đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn U v i 02 tình tiết định khung tại các điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự nhưng khi phát biểu tại phiên tòa ch đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, việc đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không nhận định việc rút một phần Quyết định truy tố này trong bản án là có thiếu sót, đề nghị Hội đồng xét xử nhận định rút kinh nghiệp cấp sơ thẩm về vấn đề này.
Trong phần tranh luận, bị cáo U thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NH N Đ NH ỦA A N
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn U đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp v i lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp v i lời khai của những người bị hại cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Xuất phát từ việc bị hại Lê Hữu H có ý kiến về việc nhà anh Lê Trung D hát karaoke làm ồn mà bị cáo Nguyễn Văn U đã có hành vi dùng thắt lưng bằng da, có đầu bằng kim loại đánh bị hại Lê Hữu H và Huỳnh Thị Kiều M gây thương tích. Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời thời điểm giám định của bị hại Lê Hữu H là 02%, Huỳnh Thị Kiều M là 22%. Tổng tỷ lệ tổn thương có thể bị cáo gây ra cho các bị hại là 24%.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo U là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được dây thắt lưng có đầu bằng kim loại là hung khí nguy hiểm, khi tấn công vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện và hậu quả là gây thương tích cho 02 bị hại v i tỷ lệ tổn thương là 24 %, chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn U về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà sơ thẩm đã tuyên đối v i bị cáo là không nặng, hoàn toàn phù hợp v i tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, đã cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ đối v i bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v i lý do mức án sơ thẩm nặng, hoàn cảnh bị cáo khó khăn, có mẹ là bà Võ Thị S được tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác Hội, bản thân bị cáo được tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đây là những tình tiết giảm nhẹ khác được xem xét theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khi lượng hình đối v i bị cáo nên cấp phúc thẩm không thể xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo U, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt.
Ngoài ra, trong vụ án này Viện kiểm sát cấp huyện truy tố bị cáo Nguyễn Văn U v i 02 tình tiết định khung tại các điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, nhưng khi phát biểu tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát ch đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Việc đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không nhận định việc rút một phần Quyết định truy tố này trong bản án là có thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo U không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
ì các lẽ trên,
QUYẾ Đ NH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn U. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội “Cố ý gây thư ng tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn U phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N
nhận:
M HỘI ĐỒNG
H
H M
- TANDTC – Vụ Giám đốc kiểm tra 1;
H M H N - HỦ A HI N A
- Ban Nội chínhTnh ủy:
- Sở Tưpháp T nh;
- VKSND T nh;
- Cơ quanTHAHS Công an T nh;
(Đã ký)
- Trạitạm giam Công anTnh;
- TA-VKS-THADShuyệnLV;
- CQCSĐT Công an huyện LV;
- Bị cáo;
- Phòng hồsơnghiệp vụ Công anTnh;
- Phòng KTNV-THA.TA Tnh;
Lê Khắc Thịnh
- Lưu:VT, HSVA (Trúc).