vanban.org

Bản án 260/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Luật Hôn nhân và gia đình;

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “ Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Trà M ly hôn anh Hoàng Minh K"
  • Tòa quyết gì? của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

TÒA ÁN

NHÂN DÂN H

UYỆN HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 260 /2019/HNGĐ-ST Ngày 24 - 9 - 2019 V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Bích. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Á 2. Bà Trần Thị Thu Thanh Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tư - Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Hoài Nhơn. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Cao Đức Vượng - Kiểm sát viên. Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2019/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2019 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2019 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số 244A/2019/QĐST- HNGĐ ngày 29/ 8/2019 giữa các đương sự; 1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Trà M, sinh năm 1996 Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện H, tỉnh B 2. Bị đơn: Anh Lê Hoàng Minh K, sinh năm 1996. Địa chỉ : Thôn T, xã Y, huyện H, tỉnh B ( Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 3 năm 2019 và trong qúa trình xét xử, nguyên đơn chị Võ Thị Trà M trình bày : Về hôn nhân: Chị Võ Thị Trà M và anh Lê Hoàng Minh K tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoài Thanh, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định vào ngày 22 tháng 6 năm 2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh K không có công việc làm ổn định, thường xuyên uống rượu về nhà đánh đập chị nhiều lần, vì nghĩ đến con nên thời gian đầu chị cố gắng chịu đựng và nhờ cha mẹ hai bên gia đình hòa giải nhưng anh Kiệt vẫn không thay đổi, hiện nay vợ chồng đã ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Chị M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Hoàng Minh K. Về nuôi con chung: Có một con chung tên Lê Hoàng Minh T, sinh ngày 20/8/2016 hiện đang ở với chị M. Khi ly hôn chị M yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Kcấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết. Tòa án đã triệu tập, thông báo, tống đạt các các văn bản tố tụng nhiều lần cho anh Lê Hoàng Minh K nhưng anh K vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn phát biểu ý kiến: - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án phù hợp với quy định của pháp luật. - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Tuy nhiên, bị đơn vắng mặt lần hai không có lý do nên Tòa tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. - Về việc giải quyết vụ án: +Về hôn nhân: Đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 51,56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Trà M được ly hôn anh Lê Hoàng Minh K + Về nuôi con chung : Giao cháu Lê Hoàng Minh T, sinh ngày 20/8/2016 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. + Về tài sản chung và nợ chung : Không yêu cầu giải quyết - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: chị My phải chịu theo quy định pháp luật. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án

nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Võ Thị Trà M yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn giải quyết việc hôn nhân và gia đình của anh chị; Bị đơn anh Lê Hoàng Minh K cư trú tại thôn Trường An 2, xã Hoài Thanh, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Nhân dân huyện Hoài Nhơn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lê Hoàng Minh K nhưng anh K luôn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn tiến hành xét xử vắng mặt anh K. [2] Về nội dung: Chị Võ Thị Trà M và anh Lê Hoàng Minh K tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoài Thanh, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2016 ngày 22 tháng 6 năm 2016. Căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, anh K đánh đập chị nhiều lần nên tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện nay anh chị đã sống ly thân và không còn quan tâm nhau. Tại phiên tòa chị My yêu cầu tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K. Hội đồng xét xử xét thấy chị M và anh K tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân để xây dựng hạnh phúc gia đình, lẽ ra anh chị phải thương yêu, tôn trọng và tạo điều kiện cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình bền vững nhưng anh chị không làm được điều đó. Giữa chị M và anh K không còn tôn trọng , quan tâm, chăm sóc nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, vợ chồng không còn sống chung với nhau đến nay được hai năm. Qua xác minh tại địa phương được biết nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn như thế nào thì chính quyền địa phương không rõ. Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng anh K luôn vắng mặt, từ diễn biến trên chứng tỏ anh K không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa chị M và anh K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị M yêu cầu được ly hôn anh K là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận. [3] Về nuôi con chung: Chị M và anh K có một con chung tên Lê Hoàng Minh T, sinh ngày 20/8/2016. Hiện nay cháu T đang ở với chị M. Ly hôn chị M yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy chị M có việc làm, thu nhập ổn định, đồng thời cháu T đang ở với chị M. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con nên cần giao cháu Thiện cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của luật hôn nhân và gia đình. [4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [6] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị M phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “ Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”; Tuyên xử: 1. Về hôn nhân : Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Trà M và anh Lê Hoàng Minh K 2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Hoàng Minh T, sinh ngày 20/8/2016 cho chị Võ Thị Trà M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị M không yêu cầu tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 4. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) sung công quỹ Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị M đã nộp theo biên lai thu số 0005076 ngày 06 tháng 5 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Nhơn. 5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ