- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Mai P - Huỳnh Hoàng V"
- Tòa quyết gì? nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Ngày: 06/04/2023 |
%§ Q i Q 2 6V /Õ2 023 + 1 * -ST V/v W U D Q Kx i n l F yK hô © nS, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết Anh Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dư Thị Út 2. Bà Khưu Liên Dung - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Như – Kiểm sát viên. Ngày 06 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXX-ST ngày 08 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Võ Mai P, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A, đường H, khóm 1, phường 3, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. 2. Bị đơn: Anh Huỳnh Hoàng V, sinh năm 1983; địa chỉ: Số B, đường H, khóm 4, phường 3, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. (Chị P, anh V vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Võ Mai P trình bày: Về hôn nhân: Chị P và anh V tự nguyện kết hôn, có tổ chức đám cưới theo phong tục vào năm 2016, có đăng ký kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật vào ngày 15/11/2016 tại Ủy ban nhân dân phường 3, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Việc kết hôn là do hai người tự nguyện không bị ai ép
buộc. Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị lúc đầu rất hạnh phúc nhưng về sau do bất đồng quan điểm sống, không phù hợp về tính tình nên thường cãi vả và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Tuy hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn, tạo cơ hội cho đôi bên nhưng mâu thuẫn đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được, chị P và anh V đã sống ly thân từ năm 2019, đến tháng 02/2022 chị P và anh V không còn sống chung như vợ chồng, chị P về nhà mẹ ruột sinh sống. Nay chị P cảm thấy cuộc sống vợ chồng với anh V không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên chị P xin ly hôn với anh V. Về con chung: Chị P xác định trong quá trình chung sống chị và anh V có 01 con chung là cháu Huỳnh Võ Gia A, sinh ngày 27/01/2017 cháu Gia A đang sống chung với chị P. Khi ly hôn, chị P yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Gia A, yêu cầu anh V cấp dưỡng cho cháu Gia A 4.000.000 đồng/tháng đến khi cháu Gia A tròn 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Huỳnh Hoàng V trình bày: Về hôn nhân: Anh V thống nhất với lời trình bày của chị P về vấn đề hôn nhân, đồng ý thời gian ly thân của anh chị từ tháng 02/2022 nhưng không thống nhất lời trình bày của chị P về mâu thuẫn gia đình, theo anh V xác định vợ chồng anh chị không có mâu thuẫn gì lớn và anh V cũng cảm thấy còn tình cảm với chị P nên anh V không đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh V xác định vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Huỳnh Võ Gia A, sinh ngày 27/01/2017, cháu Gia A đang sống chung với chị P. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh V đồng ý giao cháu Gia A cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng cho cháu Gia A 4.000.000 đồng/tháng đến khi cháu Gia A tròn 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm: - Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nên về tố tụng Viện kiểm sát không có kiến nghị gì. - Về việc giải quyết vụ án: Chị P và anh V chung sống với nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật ngày 15/11/2016 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Giữa chị P và anh V
phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P. Về con chung: Cháu Huỳnh Võ Gia A, sinh ngày 27/01/2017 đang sống chung với chị P, anh V cũng đồng ý giao cháu Gia A cho chị P nuôi dưỡng nên đề nghị giao cháu Gia A cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Huỳnh Hoàng V cấp dưỡng cho cháu Gia A 4.000.000 đồng/tháng đến khi cháu Gia A tròn 18 tuổi. Đối với tài sản chung và nợ chung do không có nên đề nghị không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau: Về tố tụng: Chị Võ Mai P yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Hoàng V, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn anh Huỳnh Hoàng V có nơi cư trú hiện nay tại phường 3, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Nguyên đơn chị Võ Mai P có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Hoàng V đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Nội dung vụ án: [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Mai P và anh Huỳnh Hoàng V có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào ngày 15/11/2016 tại Ủy ban nhân dân phường 3, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, chị P và anh V thống nhất đã ly thân từ tháng 02/2022, chị P có đơn yêu cầu ly hôn, anh V tuy không đồng ý ly hôn nhưng từ khi ly thân đến khi Tòa án xét xử anh V không có động thái gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị P kiên quyết ly hôn cho thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, cả chị P và anh V không thiết tha vun đắp cuộc sống gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Mai P. [2] Về nuôi con chung: Chị P xác định chị và anh V có 01 con chung là cháu Huỳnh Võ Gia A, sinh ngày 27/01/2017. Hiện cháu Gia A đang sống chung với chị P. Cả chị P và anh V đều thống nhất giao cháu Gia A cho chị
Võ Mai P tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Huỳnh Hoàng V cấp dưỡng cho cháu Gia A 4.000.000 đồng/tháng đến khi cháu Gia A tròn 18 tuổi. Anh V có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cản. [3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh V cùng thống nhất xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung và không ai nợ anh chị nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết. Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tại phiên tòa. [4] Về án phí: Chị Võ Mai P có yêu cầu xin ly hôn với anh Huỳnh Hoàng V nên chị P phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Anh Huỳnh Hoàng V có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Gia A nên phải nộp án phí cấp dưỡng 150.000 đồng theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; - Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; - Căn cứ khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Mai P đối với anh Huỳnh Hoàng V. 2. Về nuôi con chung: Giao cháu Huỳnh Võ Gia A, sinh ngày 27/01/2017 cho chị Võ Mai P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, hiện cháu Gia A đang sống chung với chị P được giữ nguyên. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Huỳnh Hoàng V, buộc anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Võ Gia A, sinh ngày 27/01/2017 là 4.000.000 đồng/tháng đến khi cháu Gia A tròn 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 5/2023. Anh V có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cản. 3. Về tài sản chung: Không có nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết. 4. Về nợ chung: Không có nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết. 5. Về án phí:
Chị Võ Mai P phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị P đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008356 ngày 02/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí. Buộc anh Huỳnh Hoàng V phải nộp án phí cấp dưỡng là 150.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Án xử công khai, chị P, anh V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận: -TAND tỉnh Bạc Liêu; -VKSND thành Tp. Bạc Liêu; -CCTHADS Tp. Bạc Liêu; -UBND nơi đăng ký kết hôn; -Đương sự; -Lưu HS. Lâm Thị Tuyết Anh |