vanban.org

Bản án 26 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huỳnh N xin ly hôn với anh Võ Minh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Võ Minh T. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N được quyền tiếp tục nuôi 02 con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2018 và Võ Kim S, sinh ngày 09 tháng 9 năm 2020 hiện chị N đang nuôi. Anh Võ Minh T không phải cấp dưỡng nuôi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huỳnh N xin ly hôn với anh Võ Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án: 26/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 01 – 2023
“V/v Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Lin.

2. Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 30 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 868/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 420/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 360/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm: 1998.

Địa chỉ: Ấp 4, xã T, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Anh Võ Minh T, sinh năm: 1989.

Địa chỉ: Số 00, Khu 1, thị trấn Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

(Chị N xin vắng mặt; Anh T vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 05 tháng 9 năm 2022 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Võ Minh T chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 10 tháng 01 năm 2018. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất hòa trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vả, cuộc sống chung không phù hợp. Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên xin ly hôn anh T.

Về con chung: Chị N khai, chị N và anh T chung sống 02 con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2018 và Võ Kim S, sinh ngày 09 tháng 9 năm 2020. Khi ly hôn, chị N xin được quyền nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị N khai, tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị N khai, chị N và anh T chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Võ Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh T không đến Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An làm việc hoặc phản hồi ý kiến của anh T về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Su khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà căn cứ các kết quả thẩm tra, xét hỏi tại phiên Toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp là hôn nhân gia đình; Bị đơn anh Võ Minh T có hộ khẩu thường trú tại Số 345, Khu phố 1, thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh N xin vắng mặt và bị đơn anh Võ Minh T vắng mặt không lý do nên căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Thúy và anh Đăng.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Võ Minh T chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 10 tháng 01 năm 2018 nên quan hệ hôn nhân của chị N và anh T được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị N và anh T chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải vã dù hai bên đã cố gắng hàn gắn để kéo dài cuộc sống hôn nhân nhưng không được. Nay chị N xét thấy nguyên nhân mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không con đạt được nên tha thiết xin được ly hôn với anh T. Ngược lại, anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không đến Tòa án để tham gia hòa giải đoàn tụ cũng như không tham gia phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn gia đình giữa chị N và anh T đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được và cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy, chị N yêu cầu được ly hôn với anh T là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị N khai, chị N và anh T chung sống 02 con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2018 và Võ Kim S, sinh ngày 09 tháng 9 năm 2020. Khi ly hôn, chị N xin được quyền nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Ngược lại, anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu Su này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

Về tài sản chung: Chị N khai, tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngược lại, anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu Su này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

Về nợ chung: Chị N khai, chị N và anh T chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngược lại, anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu Su này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huỳnh N xin ly hôn với anh Võ Minh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Võ Minh T.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N được quyền tiếp tục nuôi 02 con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2018 và Võ Kim S, sinh ngày 09 tháng 9 năm 2020 hiện chị N đang nuôi. Anh Võ Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị N không yêu cầu.

Anh T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom các cháu T và S mà không ai được cản trở. Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T theo quy định của pháp luật. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con của anh T.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì anh T, chị N, người thân thích của các cháu T và S, Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị N khai, tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị N khai, chị N và anh T chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước, được khấu trừ số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí mà chị N đã nộp theo biên lai số 0089 ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hoà sang án phí để thi hành.

Án này là sơ thẩm, chị N và anh T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản So bản án hoặc ngày niêm yết./.

Cỡ chữ