vanban.org

Bản án 26

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Lê Văn pham tội “Trộm cắp tài sản”.

tội “Tiêu thụ tài sản do người khác pham tội mà có”. phat bị cáo Lê Văn Đ 01 năm tù. Thời han tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt là ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trom cap tai san - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Lê Văn pham tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật ình sự xử phat; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật ình sự

T A ÁN NHÂN DÂN C NG H A XÃ H I CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN VĨNH THUẬN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈN KIÊN GIANG Bản án s : 26/2018/ S-ST

NHÂN DANH

NƯỚC C NG H A XÃ H I CHỦ NGHĨA VIỆT NAM T A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN - hành phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: Thẩ phán - Chủ t a phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vũ. Các Hội thẩ nhân dân: Ông Đỗ Văn Dũng Bà Đặng Thị Nhung - hư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương - Thư ký Tòa án. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh huận tham gia phiên tòa: Ông Cao Thế Lĩnh - Kiểm sát viên. Ngày 11 tháng 10 năm 2018, tai Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s : 25/2018/TLST- S ngày 14 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s : 122/2018/QĐXXST- S ngày 28 tháng 9 năm 2018 đ i với các bị cáo: Lê Văn Đ, sinh năm 1980; Nơi cư trú: ấp B, xã , huyện T, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Qu c tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn D và bà Trần Thị B; có vợ là Trần Thị ; Tiền án, tiền sự: Chưa; nhân thân: Ngày 22/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang xử phat 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và 12 tháng tù về tội cướp giật tài sản, đã xóa án tích. Bị cáo bị bắt tam giữ ngày 10/7/2018 và chuyển tam giam cho đến nay; có mặt. Lê Văn , sinh năm 1972; Nơi cư trú: ấp 5, xã B, huyện B, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Qu c tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); có vợ là Nguyễn ồng L và con là Lê Văn C, Lê Thị N; Tiền án, tiền sự: Chưa; nhân thân:

Ngày 01/9/2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phat 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã xóa án tích. Bị cáo bị bắt tam giữ ngày 10/7/2018 và chuyển tam giam cho đến nay; có mặt. Trần Văn T, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Khu vực 3, phường A, thị xã M, tỉnh ậu Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Qu c tịch: Việt Nam; Cha là Trần Văn M (đã chết), mẹ: Không rõ; có vợ là Trương Thị ồng T và con là Trần Trương Gia B; Tiền án: Không; tiền sự: 01 (Ngày 24/5/2017 bị Tòa án nhân dân thành ph Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc, thời han chấp hành là 12 tháng; nhân thân: Không t t. Bị cáo bị bắt tam giữ ngày 10/7/2018 và chuyển tam giam cho đến nay; có mặt - Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: ấp 1B, xã A, huyện L, tỉnh Bac Liêu; có mặt - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Trần Thị , sinh năm 1971; Nơi cư trú: ấp 6, phường L, thành ph X, tỉnh An Giang; có mặt 2. Bà uỳnh Thị B, sinh năm 1978; Nơi cư trú: ấp M, xã B, huyện T, tỉnh Kiên Giang; có mặt - Người là chứng: 1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1953; Nơi cư trú: Khu ph P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; có đơn xin vắng mặt 2. Chị Trương Thị ồng T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Khóm 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang; có mặt 3. Anh Trần Thanh D, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Khu ph P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; có đơn xin vắng mặt N I DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tai phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 09/7/2018 Lê Văn qua phòng trọ Lê Văn Đ rủ đi trộm cắp tài sản, Đ đồng ý và lấy xe mô tô biển s 72L4 - 0568 của Đ chở đi từ thị trấn T về hướng kênh 80 thước theo tuyến lộ nhựa liên xã P để tìm tài sản trộm cắp. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/7/2018 khi đến cầu Kênh 5 Nam thuộc ấp Đ, xã P, huyện T, tỉnh Kiên

Giang phát hiện Nguyễn Văn T say rượu nằm ngủ, có đậu xe Môtô Ware RS, biển s 68L1- 093.59 trên đầu cầu. Lúc này, Đ điều khiển xe qua chỗ T nằm, Đ xu ng xe lén lút lấy trộm 01 điện thoai di động hiệu OPPO F3 Plus; 01 ví da trong đó có s tiền là 1.250.000đ; 01 giấy hợp đồng mua bán xe giữa cửa hàng Yamaha Văn Tươi và Nguyễn Văn T; 01 thẻ Ngân hàng Sacombank; 01 giấy đăng ký xe mô tô 94E1-320.43 do Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn T. Sau đó, Đ lên xe chở đi về, đi được một đoan Đ nói với quay lai để trộm xe của T. đồng ý và cả hai quay xe lai. đến chổ xe của T đang đậu, lên xe đề máy điều khiển về nhà trọ của Đ. Đ lấy ví tiền vừa trộm đưa cho 100.000đ và đưa cho Trần Thị (vợ Đ) 1.000.000đ. Sau đó, Đ rủ Trần Văn T cùng đi bán xe mô tô trộm được để lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý. T điều khiển xe vừa trộm cùng với Đ đến thành ph X bán được 3.500.000 đồng. Sau khi bán xe về đến nhà trọ Đ chia cho T và mỗi người 700.000đ, còn lai Đ cất giữ. Sau đó, Đ kêu vợ là Trần Thị lấy điện thoai OPPOF3 Plus đi chay chương trình để sử dụng, lấy điện thoai di động đến cửa hàng điện thoai di động của D bị Công an phát hiện và thu giữ. Vật chứng thu giữ: Các vật chứng thu giữ từ Lê Văn Đ gồ : 01 cái ví da màu đen; 01 giấy hợp đồng mua bán xe giữa cửa hàng Yamaha Văn Tươi và Nguyễn Văn T; 01 giấy đăng ký xe mô tô 94E1-320.43 do Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Ngô Kim C, địa chỉ: ấp 5, xã L, huyện M, tỉnh Cà Mau; 01 chìa khóa xe hiệu onda; Tiền Việt Nam: 1.560.000 đồng. Vật chứng thu giữ từ Trần Văn T gồ : Tiền việt Nam: 400.000 đồng; Các vật chứng thu giữ từ Trần Thị H gồ : 01 điện thoai di động hiệu OPPO F3 Plus, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhản hiệu Novo 72L4-0568 màu đen, không gương chiếu hậu, xe bị trầy nhiều nơi, xe đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng; Các vật chứng gồ : 01 cái ví da màu đen; 01 giấy hợp đồng mua bán xe giữa của hành Yamaha Văn Tươi và Nguyễn Văn T; 01 giấy đăng ký xe mô tô 94E1-320.43 do Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu; 01 điện thoai di động hiệu OPPO F3 Plus, đã qua sử dụng và 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Ngô Kim C đã trao trả cho chủ sở hữu. Tai Bản kết luận định giá tài sản s 23/KL- ĐĐGTS, ngày 12/7/2018 của ội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện T kết luận về giá trị tài sản tai thời điểm tháng 7/2018 như sau:

- 01 điện thoai di động hiệu OPPO F3 Plus có giá trị còn lai là 8.552.000đ. - 01 xe mô tô Wave RS 68L1-093.59 có giá trị còn lai là 14.200.000đ. - 01 cái ví da có giá trị còn lai là 20.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trên là 22.772.000 đồng. Tai bản Cáo trang s 28/CT-VKSVT ngày 12 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận đã truy t bị cáo Lê Văn Đ, Lê Văn về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tai khoản 1 Điều 173 của Bộ luật ình sự và truy t bị cáo Trần Văn T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác pham tội mà có” theo quy định tai khoản 1 Điều 323 của Bộ luật ình sự. Tại phiên tòa: - Kiểm sát viên giữ quyền công t tai phiên tòa giữ nguyên quyết định truy t , đề nghị tuyên b các bị cáo Lê Văn Đ, Lê Văn pham tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tai khoản 1 Điều 173 Bộ luật ình sự và đề nghị tuyên b bị cáo Trần Văn T pham tội “Tiêu thụ tài sản do người khác pham tội mà có” theo quy định tai khoản 1 Điều 323 của Bộ luật ình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật ình sự xử phat bị cáo Lê Văn Đ từ 09 đến 12 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật ình sự xử phat bị cáo Lê Văn từ 09 đến 12 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 323 của Bộ luật ình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật ình sự xử phat bị cáo Trần Văn T từ 06 đến 09 tháng tù. Về trách nhiệ dân sự: Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị hai Nguyễn Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị . Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật hình sự đề nghị: Trả lai cho Nguyễn Văn T s tiền 1.000.000đ đã thu được từ Trần Thị . Trả cho bị cáo Lê Văn Đ 01 xe mô tô nhản hiệu Nouvo 72L4- 0568 màu đen, không gương chiếu hậu, xe bị trầy nhiều nơi, xe đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ s tiền thu lợi bất chính 1.960.000đ từ việc bán xe đã thu hồi được từ Lê Văn Đ và Trần Văn T. Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa xe hiệu onda mà Cơ quan điều tra thu giữ. - Bị hai Nguyễn Văn T yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị mất (chiếc xe mô tô Wave RS 68L1-093.59) s tiền 14.200.000đ, bị cáo Lê Văn đã bồi thường cho bị hai s tiền 5.000.000đ, s tiền còn lai là 9.200.000đ yêu cầu các bị cáo Lê Văn Đ,

Trần Văn T tiếp tục bồi thường cho bị hai. Tai phiên tòa bà Trần Thị đồng ý thay mặt các bị cáo bồi thường cho bị hai s tiền này nên đề nghị ĐXX ghi nhận; Về s tiền 1.000.000đ bị mất trộm mà Cơ quan điều tra đã thu hồi lai được, bị hai xin được nhận lai; Về các tài sản khác, bị hai đã nhận lai không yêu cầu gì thêm. Về trách nhiệm hình sự yêu cầu xử lý các bị cáo theo quy định pháp luật. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị không biết s tiền 1.000.000đ và điện thoai OPPO F3 Plus bà nhận từ bị cáo Đ là tài sản do trộm cắp mà có. S tiền 1.000.000đ bà đã nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra; Về s tiền 9.200.000đ bị hai T yêu cầu các bị cáo bồi thường, bà xin thay mặt các bị cáo bồi thường cho bị hai s tiền này, xin trả dần, mỗi tháng trả 1.000.000đ, riêng tháng cu i trả 1.200.000đ, trả vào ngày 25 hàng tháng, bắt đầu trả từ tháng 10/2018, trả cho khi hết s tiền. Ngoài ra, bà xin nhận lai xe mô tô nhản hiệu Nouvo 72L4- 0568 màu đen vì xe này là tài sản chung của bà và bị cáo Đ mà bà không có lỗi trong vụ này. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan uỳnh Thị B trình bày: Bà có bồi thường cho bị hai Nguyễn Văn T s tiền 5.000.000đ, s tiền này bà không yêu cầu bị cáo phải trả lai. - Các bị cáo Lê Văn Đ, Lê Văn , Trần Văn T thừa nhận hành vi pham tội của mình như cáo trang đã truy t , không tranh luận gì thêm, xin ĐXX xem xét giảm nhẹ hình phat cho các bị cáo. Về s tiền 9.200.000đ bị hai Nguyễn Văn T yêu cầu, bị cáo Lê Văn Đ, Trần Văn T th ng nhất cho bà Trần Thị thay mặt các bị cáo bồi thường. Bị cáo Đ xin nhận lai xe mô tô nhản hiệu Nouvo 72L4- 0568 màu đen và cho Trần Thị nhận thay. NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tai phiên tòa, ội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Trong quá trình điều tra, truy t Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục t tụng theo quy định của Bộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy t và tai phiên tòa, bị cáo và những người tham gia t tụng không có khiếu nai gì về hành vi, quyết định của các cơ cơ quan tiến hành t tụng; người tiến hành t tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành t tụng và người tiến hành t tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tai phiên tòa Lê Văn Đ, Lê Văn , Trần Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trang đã truy t . Cụ thể: Khoảng 00 giờ 30 ngày 10/7/2018 lợi dụng Nguyễn Văn T say rượu ngủ say Lê Văn Đ, Lê Văn đã lén lút lấy trộm các tài sản gồm: 01 xe mô tô Wave RS 68L1-093.59 của Nguyễn Văn T; 01 điện thoai di động hiệu OPPO F3 Plus; 01 ví da trong đó có s tiền là 1.250.000đ; 01 giấy hợp đồng mua bán xe giữa cửa hàng Yamaha Văn Tươi và Nguyễn Văn T; 01 thẻ Ngân hàng Sacombank; 01 giấy đăng ký xe mô tô 94E1-320.43 do Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn T. Sau khi lấy trộm được tài sản, Đ cùng Trần Văn T đi đến thành ph X bán chiếc xe mô tô vừa trộm được s tiền 3.500.000 đồng. Đ chia cho T và mỗi người 700.000đ, còn lai Đ cất giữ. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hai, người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tai phiên tòa. [3] Như vậy, với ý định chiếm đoat tài sản của người khác, các bị cáo Lê Văn Đ, Lê Văn đã lợi dụng sự sơ hở của bị hai, lén lút trộm cắp tài sản; khi thực hiện hành vi các bị cáo đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; s tài sản các bị cáo chiếm đoat có giá trị theo định giá là 24.022.000đ. Do đó hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộ cắp tài sản” theo quy định tai khoản 1 Điều 173 của Bộ luật ình sự. Khoản 1 Điều 173 quy định: “1. Người nào tr cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thu c t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không gia giữ đến 03 nă hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 nă ”: a) Đã bị xử phạt vi phạ hành chính về hành vi chiế đoạt tài sản à còn vi phạ ; b) Đã bị kết án về t i này hoặc về t trong các t i quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của B luật này, chưa được xóa án tích à còn vi phạ ; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã h i; d) Tài sản là phương tiện kiế sống chính của người bị hại và gia đình họ; đ) Tài sản là di vật, cổ vật”. [4] Bị cáo Trần Văn T, mặc dù không hứa hẹn trước nhưng biết rõ xe mô tô Wave RS 68L1-093.59 do bị cáo và Đ trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý cùng với Đ đi tìm

chỗ tiêu thụ và được hưởng lợi từ s tiền bán được này. Do đó hành vi của bị cáo T đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác pham tội mà có” theo quy định tai khoản 1 Điều 323 của Bộ luật ình sự. Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào không hứa hẹn trước à chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạ tội à có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không gia giữ đến 03 nă hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 nă ”. Như vậy, cáo trang của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận truy t đ i với hành vi của các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. [5] ành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm pham trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an tai địa phương. [6] Bị cáo Đ không phải là người khởi xướng việc đi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo tham gia tích cực vào việc pham tội. Khi thấy bị hai T ngủ say bị cáo dừng xe lai lén lút lấy tài sản. Bị cáo là người đưa ra ý định lấy xe mô tô của bị hai T. Ngoài lần vi pham này, vào ngày 22/11/2011 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phat 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và 12 tháng tù về tội cướp giật tài sản. Thể hiện bị cáo là người xem thường pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy t và tai phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên ĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tai điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật ình sự. [7] Bị cáo là người khởi xướng việc trộm cắp tài sản, đồng thời cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô của bị hai T. Ngoài lần pham tội này, vào ngày 01/9/2009 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phat 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” sau khi ra tù bị cáo không ăn năn h i cải, lai dấn thân vào con đường pham tội. Song

xét thấy, trong quá trình điều tra truy t và tai phiên tòa bị cáo bị cáo đã thành thật, khai báo; gia đình bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hai s tiền 5.000.000đ. Do đó ĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tai điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật ình sự. [8] Đ i với bị cáo T, bị cáo mới pham tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy t và tai phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn h i cải nên ĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách hình sự theo quy định tai điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật ình sự.

[9] Qua phân tích, xét thấy cần phải xử các bị cáo bằng hình phat tù có thời han để cách ly bị cáo ra khỏi đời s ng xã hội một thời gian, buộc bị cáo chấp hành hình phat tập trung để cơ quan chức năng cải tao, giáo dục bị cáo là phù hợp. [10] Đ i với Trần Thị do không biết tài sản do Lê Văn Đ, Lê Văn trộm cắp mà có nên hành vi của Trần Thị không cấu thành tội pham. [11] Trong quá trình điều tra và tai phiên tòa các bị cáo có khai đ i tượng mua xe Mô tô biển s 68 L1-093.59. Tuy nhiên, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Thuận đã tiến hành điều tra xác minh nhưng chưa làm rõ được đ i tượng nêu trên. Do đó chưa có cơ sở để xử lý. [12] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật ình sự; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự. Trả lai cho Nguyễn Văn T s tiền 1.000.000đ mà các bị cáo đã chiếm đoat. Tịch thu sung quỹ s tiền 1.960.000đ từ việc bán xe đã thu hồi. Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa xe hiệu onda mà Cơ quan điều tra thu giữ do không còn giá trị sử dụng. Về xe mô tô nhãn hiệu Nouvo 72L4- 0568 màu đen, không gương chiếu hậu, xe bị trầy nhiều nơi, đã qua sử dụng của Lê Văn Đ. Xét thấy xe này được mua từ s tiền của bị cáo và vợ bị cáo là Trần Thị . Bà không biết việc bị cáo dùng xe để đi trộm cắp tài sản. Do đó ĐXX th ng nhất trả lai xe mô tô Nouvo 72L4- 0568 cho bị cáo Lê Văn Đ. (Bị cáo Đ yêu cầu cho bà nhận thay). [13] Về trách nhiệm dân sự: Tai phiên tòa bị hai Nguyễn Văn T yêu cầu các bị cáo bồi thường s tiền còn lai là 9.200.000đ. Bà Trần Thị (vợ bị cáo Đ đồng thời là mẹ vợ bị cáo T) thay mặt các bị cáo bồi thường cho bị hai T s tiền là 9.200.000đ, trả dần, mỗi tháng trả 1.000.000đ, riêng tháng cu i trả 1.200.000đ, trả vào ngày 25 hàng tháng, bắt đầu trả từ tháng 10/2018, trả cho khi hết s tiền. Bị cáo, bị hai đều th ng nhất nên ĐXX ghi nhận. [14] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật ình sự. Tuyên b các bị cáo Lê Văn Đ, Lê Văn pham tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 323 của Bộ luật ình sự. Tuyên b bị cáo Trần Văn T pham tội “Tiêu thụ tài sản do người khác pham tội mà có”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật ình sự xử phat bị cáo Lê Văn Đ 01 năm tù. Thời han tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt là ngày 10/7/2018. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật ình sự xử phat bị cáo Lê Văn 01 năm tù. Thời han tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt là ngày 10/7/2018. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật ình sự xử phat bị cáo Trần Văn T 06 tháng tù. Thời han tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt là ngày 10/7/2018. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật ình sự; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự: Trả lai cho Nguyễn Văn T s tiền 1.000.000đ. Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa xe hiệu onda mà Cơ quan điều tra thu giữ. Tịch thu sung quỹ s tiền 1.960.000đ từ việc bán xe đã thu hồi. Trả lai 01 xe mô tô nhãn hiêu Nouvo 72L4- 0568 màu đen, không gương chiếu hậu, xe bị trầy nhiều nơi, đã qua sử dụng cho bị cáo Lê Văn Đ. (Do bà Trần Thị nhận thay). (Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/7/2018 và ngày 13/9/2018). 3. Về trách nhiệ dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật ình sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường của bị hai Nguyễn Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị . Bà Trần Thị bồi thường cho bị hai Nguyễn Văn T s tiền là 9.200.000đ, trả dần, mỗi tháng trả 1.000.000đ, riêng tháng cu i trả 1.200.000đ, trả vào ngày 25 hàng tháng, bắt đầu trả từ tháng 10/2018, trả cho khi hết s tiền. Nếu bà Trần Thị vi pham nghĩa vụ trả tiền theo định kỳ như đã thỏa thuận thì phía bị hai Nguyễn Văn Tỏa có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án thi hành buộc bà trả một lần cho toàn bộ s tiền chưa trả. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, nếu người phải thi hành chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì phải chịu thêm khoản tiền lãi của s tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tai khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với s tiền và thời gian chậm thi hành án.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật T tụng hình sự và các Điều 6; Điều 23 của Nghị quyết s 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn Đ, Lê Văn , Trần Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; Bà Trần Thị phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đ i với nghĩa vụ phải thi hành là 460.000đ. 5. Bị cáo; bị hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời han 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ