vanban.org

Bản án 26/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 18/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Thao Văn D, Thao Văn Ch (Thao A Ch), Phàng A P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Thao Văn D 17 (mười bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2017. Xử phạt bị cáo Thao Văn Ch (Thao A Ch) 17 (mười bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào a D và đồng phạm - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Thao Văn D, Thao Văn Ch (Thao A Ch), Phàng A P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2017/HSST
Ngày 18 tháng 12 năm 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Nghiêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lèo Thị Chan.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

- Thƣ ký phiên tòa: Ông Mai Thanh Nghị - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2017/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2017, đối với các bị cáo:

1. Thao Văn D, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1970; nơi ĐKNKTT: Bản L, xã M, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số: 24 – QĐ/UBKTHU ngày 15/8/2017 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy Q, Thanh Hóa; con ông: Thao Văn A, con bà: Hờ Thị K (đã chết); bị cáo có vợ là Gia Thị M và 05 con (con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2013). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Thao Văn Ch, tên gọi khác: Thao A Ch, sinh năm: 1958; nơi ĐKNKTT: Bản L, xã M, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Thao Văn C (đã chết), con bà: Phạm Thị L; bị cáo có vợ là Hờ Thị D và 05 con (con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1998). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3. Phàng A P, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1973; nơi ĐKNKTT: Xóm C, xã Pa Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Phàng A Tếnh (đã chết), con bà: Sùng Y Día; bị cáo có vợ là Sùng Y V và 03 con (con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2002). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Hơ Thị B, sinh năm 1997, nơi ĐKNKTT: Bản L, xã M, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

2. Sùng A R, sinh năm 1980, nơi ĐKNKTT: Xóm C, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 25/7/2017, tổ công tác phòng Cảnh sát phòng chống ma túy (PC47) Công an tỉnh Sơn La phối hợp với các đơn vị chức năng làm nhiệm vụ trên đường Quốc lộ 6A thuộc địa phận bản Co Chàm, xã L, huyện V đã phát hiện và bắt quả tang Thao Văn D, Thao Văn Ch đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 15 túi nilon màu xanh bên trong chứa các viên nén màu hồng, màu xanh (D, Ch khai là hồng phiến); 01 xe máy BKS 36H7-050.37; 03 điện thoại di động; 200.000VNĐ cùng một số giấy tờ khác.

Mở rộng điều tra, ngày 26/7/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Sơn La ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Phàng A P về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Ngày 25/7/2017 Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định trọng lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: 15 túi nilon màu xanh chứa 2.961 viên nén màu hồng, màu xanh; tổng trọng lượng 287,93 gam; trích trong mỗi túi 10 viên màu hồng có tổng trọng lượng 15,3 gam ký hiệu DC1A đến DC15A, trích trong mỗi túi 2 viên màu xanh có tổng trọng lượng 3,15 gam ký hiệu DC1B đến DC15B làm mẫu trưng cầu giám định.

Tại kết luận giám định số 776/KLMT ngày 02/8/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Các mẫu gửi giám đều là chất ma túy, loại chất Methamphetamine; tổng trọng lượng ma túy thu giữ là 287,93 gam loại chất Methamphetamine.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận:

Khoảng tháng 6/2017 Thao Văn D, Thao Văn Ch đi chợ Sa Lếch, Mai Châu, Hòa Bình mua đồ dùng gia đình, Ch dẫn D vào nhà P chơi và ngủ qua đêm tại nhà P. Sáng hôm sau ba người cùng bàn bạc thống nhất Ch, D tìm mua hồng phiến đem về bán cho P với giá 6.000.000VNĐ/ 1 túi, bán xong P mới trả tiền.

Sau khi thống nhất, Ch và D đi về nhà, đến ngày 19/7/2017 D gọi điện cho Mùa A Vàng ở Hủa Phăn, Lào là người quen trước đó hỏi mua hồng phiến, Vàng nói có hồng phiến bán với giá 3.200.000VNĐ/1 túi, D bảo Vàng đem sang cho D 15 đến 20 túi hồng phiến để D bán, bán xong D trả tiền. Vàng đồng ý. Đến ngày 21/7/2017 Mùa A V1 đem sang giao cho D 15 túi hồng phiến rồi đi về, D nhận hồng phiến đem đi cất giấu và gọi điện thông báo cho Ch đã mua được 15 túi hồng phiến và rủ Ch cùng đem đi bán cho P, tiền lãi chia đôi, Ch nhất trí. D gọi điện hỏi lại P có mua hồng phiến không? P nói hiện P mới đủ tiền để mua một túi hồng phiến, giá một túi như đã thỏa thuận trước đó thì P sẽ trả tiền trước một túi, số còn lại P bán xong mới trả tiền. D đồng ý.

Ngày 25/7/2017, D lấy xe máy chở Ch cùng 15 túi hồng phiến sang nhà P để bán cho P, khi D, Ch đi đến khu vực bản C, xã L, huyện V thì bị phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Thao Văn D khai mua của Mùa A V1 ở Hủa Phăn – nước CHDCND Lào nhưng D không biết địa chỉ cụ thể của Vàng. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, điều tra mở rộng vụ án.

Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 1079/VKS-P1 ngày 23/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Thao Văn D, Thao Văn Ch, Phàng A P về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Thao Văn D, Thao Văn Ch, Phàng A P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194; điểm p, q khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Thao Văn D từ 17 đến 18 năm tù.

- Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194; điểm p, q khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Thao Văn Ch từ 17 đến 18 năm tù.

- Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phàng A P từ 17 đến 18 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị trả lại chiếc xe.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Do hám lợi nên ngày 25/7/2017, Thao Văn D, Thao Văn Ch đã có hành vi vận chuyển trái phép 287,93 gam Methamphetamine đem bán cho Phàng A P. Khi D và Ch đang trên đường vận chuyển số ma túy trên đến khu vực bản Co Chàm, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La thì bị cơ quan Công an phát hiện và bắt quả tang, sau đó Phàng A P cũng bị bắt.

Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 25/7/2017, tại bản C, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La đối với Thao Văn D, Thao Văn Ch cùng vật chứng thu giữ là 15 gói nilon màu xanh bên trong chứa các viên nén màu hồng, màu xanh các bị cáo khai là Hồng phiến. Lệnh bắt khẩn cấp đối với Phàng A P;

- Kết quả kiểm tra điện thoại thu giữ của các bị cáo;

- Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La lập ngày 25/7/2017; Kết luận giám định số 776/KLMT ngày 02/8/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu từ DC1A đến DC15A, từ DC1B đến DC15B là chất ma túy; loại chất Methamphetamine. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ là 287,93 gam; loại chất Methamphetamine”.

- Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Với các căn cứ chứng minh trên đã có đủ cơ sở kết luận: Thao Văn D, Thao Văn Ch, Phàng A P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Khung hình phạt áp dụng: Các bị cáo Thao Văn D, Thao Văn Ch, Phàng A P đã có hành vi mua bán trái phép 287,93 gam loại chất Methamphetamine, vi phạm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự: “Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam” có mức hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, các bị cáo có vai trò ngang nhau.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Sau khi bị bắt Thao Văn D, Thao Văn Ch đã khai ra Phàng A P là người mua ma túy nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “tích cực giúp đỡ cơ quan điều tra phát hiện, điều tra tội phạm” quy định tại điểm q khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự các bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 269,48 gam loại chất Methamphetamine còn lại sau khi đã trích mẫu giám định xét thấy đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy cùng 01 chiếc túi xách màu đen, không còn giá trị sử dụng.

Đối với 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S màu sơn trắng, vàng, đen, BKS 26G1 – 011.50 cùng 01 đăng ký xe mang tên Trần Xuân Điệp thu giữ khi bắt khẩn cấp Phàng A P. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định chiếc xe trên Phàng A P mượn của anh Sùng A R (hàng xóm của P), việc bị cáo P sử dụng xe đi mua bán trái phép chất ma túy anh R không biết, không liên quan nên cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh Sùng A R.

Đối với 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX màu sơn trắng, xám, BKS 36H7 – 050.37 cùng 01 chứng nhận đăng ký xe mang tên Hơ Thị B thu giữ khi bắt quả tang Thao Văn D. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu của Hơ Thị B (con dâu D), việc các bị cáo D sử dụng xe đi mua bán trái phép chất ma túy chị B không biết, không liên quan nên cần trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hơ Thị B.

Đối với 03 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel thu giữ của các bị cáo. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là phương tiện các bị cáo đã sử dụng để liên lạc phạm tội, nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 200.000VNĐ thu giữ của bị cáo Thao Văn D, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 quyển sổ hộ chiếu mang tên Thao Văn D, xác định đây là giấy tờ của bị cáo D, cần trả lại cho bị cáo Thao Văn D.

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định chung của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Thao Văn D, Thao Văn Ch (Thao A Ch), Phàng A P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

1. Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194; điểm p, q khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Thao Văn D 17 (mười bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2017.

- Xử phạt bị cáo Thao Văn Ch (Thao A Ch) 17 (mười bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2017.

2. Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Phàng A P 17 (mười bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2017.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Một hộp vật chứng được dán bằng giấy trắng, còn nguyên niêm phong một mặt có ghi: “Vật chứng nhập kho vụ Thao Văn D cùng đồng phạm; can tội: Mua bán trái phép chất ma túy, bắt ngày 25/7/2017. Tổng trọng lượng 269,48 gam nghi là ma túy tổng hợp”. 01 chiếc túi xách màu đen có nhãn hiệu “Chac Thung” đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model 1136, vỏ màu đen, 2 IMEI có 04 số cuối 5700; 5718 kèm 02 sim trong máy và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel Model 126, vỏ màu đen, viền xanh, 2 IMEI có 04 số cuối 2727; 2735 kèm 02 sim trong máy (thu giữ của bị cáo Thao Văn D); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model 1280, vỏ màu đen, IMEI có 04 số cuối 055/3 kèm 01 sim trong máy (thu giữ của bị cáo Phàng A P); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen, phần bên trong máy không có số IMEI, kèm 01 sim trong điện thoại (thu giữ của bị cáo Thao Văn Ch);

- Trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Sùng A R: 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S, màu sơn trắng, vàng, đen có BKS 26G1 – 011.50, xe có số máy 4123320, số khung 105614, xe không hoạt động được (thu giữ của Phàng A P) cùng 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trần Xuân Đ, BKS 26G1 – 011.50, có số 006922 do Công an huyện M, tỉnh Sơn La cấp ngày 12/6/2013.

- Trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hơ Thị B: 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu sơn trắng, xám có BKS 36H7 – 050.37, xe có số máy 1073870, số khung EY039303, xe không hoạt động được (thu giữ của Thao Văn D) cùng 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hơ Thị B, BKS 36H7 – 050.37, có số 001116 do Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 08/01/2016.

- Trả cho bị cáo Thao Văn D 01 quyển sổ hộ chiếu mang tên Thao Văn D, có số B5977125.

- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 200.000VNĐ (hai trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu giữ của bị cáo Thao Văn D.

3. Án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/12/2017)./.

Cỡ chữ