vanban.org

Bản án 26/BA — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Diễm Tr được ly hôn với anh Trần Huệ T.

Về con chung: tiếp tục giao cháu Trần Diệu Nh, sinh ngày 14/06/2022 cho chị Nguyễn Diễm Tr nuôi và giao cháu Trần Gia H, sinh ngày 19/04/2020 cho anh Trần Huệ T nuôi. Chị Nguyễn Diễm Tr và anh Trần Huệ T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "XIN LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Diễm Tr được ly hôn với anh Trần Huệ T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 26/2025/HNGĐ -ST
Ngày : 31 – 7 – 2025
V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Tiến Sĩ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thanh Liêm

Ông Võ Sĩ Hùng

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng – Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 31 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 344/2025/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 6 năm 2025 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Diễm Tr, Sinh năm: 2002; Địa chỉ: ấp Tân Hòa, xã Tân Tiến, huyện A, tỉnh B (nay là ấp Tân Hòa, xã C, tỉnh B ). Xin vắng mặt.

Bị đơn: Anh Trần Huệ T Sinh năm: 1992; Địa chỉ: 27/115, đường Huỳnh Thúc Kháng, Khóm D, Phường G, thành phố H, tỉnh B (nay là Phường E, tỉnh B). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Tại đơn khởi kiện chị Tr bày: chị và anh T kết hôn với nhau vào năm 2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã F, huyện J, tỉnh B. Quá trình chung sống vợ chồng xảy mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau và vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/ 2022, nay mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh Tâm.

Về con chung: có 02 đứa tên Trần Gia H, sinh ngày 19/04/2020 và Trần Diệu Nh, sinh ngày 14/06/2022. Hiện tại cháu Trần Diệu Nh đang ở với chị, cháu Trần Gia H đang ở với anh T. Khi ly hôn chị Tr yêu cầu được nuôi cháu Trần Diệu Nh, anh T được nuôi cháu Trần Gia H, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Tr khai không có.

Đối với anh T Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :

Về thủ tục tố tụng: chị Tr xin được xét xử vắng mặt và anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.

Về nội dung tranh chấp được xác định là xin ly hôn. Chị Tr và anh T kết hôn năm 2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện F, tỉnh B, hôn nhân có đủ điều kiện kết hôn theo luật định nên được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án chị Tr cho rằng vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, không hòa hợp, cuộc sống không hạnh phúc, vì vậy chị yêu cầu được ly hôn với anh T

Đối với anh T, quá trình giải quyết vụ án anh vắng mặt và cũng không có gởi văn bản thể hiện ý kiến của mình nên anh tự chịu thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Xét thấy hôn nhân giữa chị Tr và anh T có nhiều mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị Tr là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về con chung: có 02 đứa tên Trần Gia H, sinh ngày 19/04/2020 và Trần Diệu Nh, sinh ngày 14/06/2022. Hiện tại cháu Trần Diệu Nh đang ở với chị, cháu Trần Gia H đang ở với anh T. Khi ly hôn chị Tr yêu cầu được nuôi cháu Trần Diệu Nh và giao anh T được nuôi cháu Trần Gia H, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng. Xét việc nuôi dưỡng con là trách nhiệm của cha mẹ và hiện nay các cháu đang có cuộc sống ổn định, đồng thời chị Tr thống nhất giao cháu Huy cho anh T nuôi và cũng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Vì vậy tiếp tục giao cháu Nh cho chị Tr nuôi và giao cháu H cho anh T nuôi là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Tr khai không có.

Án phí hôn nhân và gia đình : chị Tr phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Diễm Tr được ly hôn với anh Trần Huệ T.

- Về con chung: tiếp tục giao cháu Trần Diệu Nh, sinh ngày 14/06/2022 cho chị Nguyễn Diễm Tr nuôi và giao cháu Trần Gia H, sinh ngày 19/04/2020 cho anh Trần Huệ T nuôi.

Chị Nguyễn Diễm Tr và anh Trần Huệ T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: chị Trinh khai không có.

2. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Tr phải chịu 300.000đ, ngày 13/6/2025 chị Tr đã dự nộp 300.000đ theo lai số 0011022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau ) được giữ y sung Ngân sách nhà nước.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ