vanban.org

Bản án 26/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 18/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Hoài S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Hoài S 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày đi chấp hành án. Về bồi thường thiệt hại:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hoài S - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Hoài S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2026/HSST
Ngày: 18-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đông Thiên

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Hoà

2. Bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Hương Giang - Thư ký của Toà án nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phan Tiến Lực - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2026/HSST ngày 30.01.2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2026/QĐXXST-HS ngày 26.02.2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2026/HSST-QĐ, ngày 12.3.2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: TRƯƠNG HOÀI S, giới tính: Nam; sinh ngày 18.8.1996 tại tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú: Tổ 45, khu phố xx, phường N, tỉnh G; Nơi ở hiện nay: Tổ 46A, khu phố xx, phường N, tỉnh G; Căn cước công dân số: 052096xxx.xxx; Nghề nghiệp: Xe ôm; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trương Văn T (chết) và bà: Hồ Thị C, sinh năm 1961; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

Ngày 27.3.2023 bị Công an thành phố Quy Nhơn, tỉnh bình Định (cũ) xử phạt vi phạm hành chính 5.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”;

Ngày 03/6/2025 bị Công an phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn (nay Công an phường Quy Nhơn Nam) xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý;

Ngày 04/6/2025 bị Uỷ ban nhân dân phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn (nay phường Quy Nhơn Nam) áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Quy Nhơn Nam, từ ngày 27/10/2025 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng Quốc V, sinh năm 2006; Trú tại: Số 64/2 đường B, phường N, tỉnh G (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh Phạm Ngọc H, sinh năm 2004; Trú tại: Tổ 37, khu phố X, phường N, tỉnh G. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước, nên khoảng 18 giờ 50 phút ngày 01/6/2025, bị cáo Trương Hoài S chuẩn bị một con dao (loại dao Thái Lan mũi cong) giấu trong túi áo khoác đi bộ từ nhà đến đường hẻm thuộc tổ 46A, khu phố 30, phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai để chặn đánh anh Nguyễn Hoàng Quốc V. Khi thấy anh V đang điều khiển xe mô tô chở anh Phạm Ngọc H thì bị cáo S chặn đầu xe mô tô của V lại nói “Cho hỏi cái này xíu!”, V dừng xe mô tô lại thì bị cáo S hỏi “Bọn bay lúc chiều có nghe tao nói gì không?”, V và H không trả lời. Bực tức vì không ai trả lời nên bị cáo S lấy con dao trong túi áo khoác ra chém ngang một cái từ phải sang trái trúng vào vùng núm vú ngực bên phải và cánh tay phải của anh V. Bị chém trúng đã làm anh V, anh Hà và xe mô tô ngã xuống đường. Anh H ở phía sau kéo anh V bỏ chạy về hướng đường cống (khu phố 33, phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai). Bị cáo S rượt đuổi theo khoảng 05m thì dừng lại rồi đi bộ vào khu vực Đèo Son, thuộc tổ 46A, khu phố 30, phường Quy Nhơn Nam, rồi sau đó đem con dao về cất giấu tại nhà. Anh V bị thương được anh H chở đến điều trị tại Trung tâm y tế Quy Nhơn.

Hậu quả: Anh Nguyễn Hoàng Quốc V bị 01 vết thương nông ngang dài 06cm, vị trí 1/3 trên mặt trước cánh tay phải và 01 vết thương nông ngang dài 03cm, vị trí vú bên phải.

Ngày 17/6/2025, anh Nguyễn Hoàng Quốc V có đơn yêu cầu giám định thương tích và đề nghị xử lý hình sự đối với hành vi gây thương tích của bị cáo Trương Hoài S.

Ngày 07/10/2025, Trung tâm Pháp y tỉnh Gia Lai ban hành Kết luận giám định số: 57A/KLTTCT-PYGL, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hoàng Quốc V tại thời điểm giám định là 06% (Sáu phần trăm).

Ngày 03/10/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai ban hành Kết luận giám định số: 465/KL-KTHS, kết luận: 01 con dao (loại dao Thái Lan) tổng chiều dài 20cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm, nơi rộng nhất 02cm, có ghi dòng chữ “KIWI BRAND STANDLESS STEEL”; cán bằng nhựa, màu vàng dài 09cm, có ghi dòng chữ “KIWI” gửi giám định không thuộc danh mục vũ khí thô sơ hay danh mục dao có tính sát thương cao do Bộ Công an quy định trong Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

- Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai thu giữ: 01 dao Thái Lan dài 20cm (gồm: Cán nhựa màu vàng dài 09cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm), đã qua sử dụng.

- Về dân sự: Bị hại Nguyễn Hoàng Quốc V yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích và tổn thất tinh thần tổng số tiền: 5.260.000 đồng. Đến nay, bị can chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKSQN ngày 28.01.2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trương Hoài S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo S về tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo S từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 dao Thái Lan dài 20cm (gồm: Cán nhựa màu vàng dài 09cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm), đã qua sử dụng;

- Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo S có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Hoàng Quốc V số tiền 5.260.000 đồng.

- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo S thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Trương Hoài S khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên toà nên Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn trước đó, khoảng 18 giờ 50 phút ngày 01.6.2025 tại đường hẻm thuộc tổ 46A, khu phố 30, phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai, bị cáo S đã có hành vi dùng dao Thái Lan loại mũi cong chém anh Nguyễn Hoàng Quốc V gây thương tích tại vị trí cánh tay phải và núm vú ngực phải. Ngày 07/10/2025, Trung tâm Pháp y tỉnh Gia Lai ban hành Kết luận giám định số: 57A/KLTTCT-PYGL, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hoàng Quốc V tại thời điểm giám định là 06% theo nguyên tắc cộng. Bị cáo S là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hành vi dân sự, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích không lấy đó làm bài học cho bản thân nhưng với ý thức xem thường pháp luật, xem thường sức khoẻ của người khác, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, không kìm chế được bản thân, bị cáo đã dùng dao chém về hướng của bị hại Nguyễn Hoàng Quốc V, gây thương tích với tỷ lệ thương tật 06%. Nên cáo trạng số 41/CT-VKSKV1 ngày 28.01.2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai đã truy tố bị cáo Trương Hoài S về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, mới có tác dụng giáo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Về Nhân thân: Bị cáo Trương Hoài S có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích vào năm 2023; xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo S không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên trong quá trình lượng hình cần xem xét mức án có lý, có tình để bị cáo an tâm cải tạo.

Về bồi thường thiệt hại: Sau khi bị chém, bị hại anh Nguyễn Hoàng Quốc V được đưa vào Trung tâm y tế Quy Nhơn chữa trị. Quá trình điều tra và tại nội dung đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại Nguyễn Hoàng Quốc V yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản sau:

- Chi phí điều trị thương tích tại Trung tâm y tế Quy Nhơn: 260.000 đồng (Có hóa đơn);

- Bồi thường tổn thất sức khoẻ và tinh thần: 5.000.000 đồng.

Tổng cộng: 5.260.000 đồng.

Tại phiên toà bị cáo đồng ý các khoản bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền là 5.260.000 đồng.

Về phần xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra thu giữ 01 con dao thái lan dài 20cm. Xét thấy đây là hung khí gây thương tích nhưng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích” và có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại, nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác: Bị cáo S sử dụng dao Thái Lan để thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại V nhưng không thuộc danh mục vũ khí thô sơ hay danh mục dao có tính sát thương cao nên hành vi của bị cáo S không cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Điều 304 Bộ luật hình sự

Quá trình điều tra xác minh ngoài hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” nêu trên, bị cáo S còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 31/5/2025, tuy nhiên hành vi của bị cáo không thuộc các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự, nên không phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Công an phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia lai đã lập hồ sơ và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối bị cáo về hành vi này.

Xét đề nghị của đại điện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Gia Lai tại phiên toà về mức hình phạt của bị cáo và các nhận định khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 89, 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 584, Điều 590 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miến, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Hoài S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Hoài S 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày đi chấp hành án.

3. Về bồi thường thiệt hại:

Buộc bị cáo Trương Hoài S có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Hoàng Quốc V số tiền 5.260.000 đồng .

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được quyền yêu cầu bồi thường, hoàn trả có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ phải thi hành không trả hoặc trả không đầy đủ thì còn phải chịu tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

4. Về phần xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 dao Thái Lan dài 20cm (gồm: Cán nhựa màu vàng dài 09cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm), đã qua sử dụng);

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2026 tại Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 1 – Gia Lai.

5. Án phí: Buộc bị cáo Trương Hoài S phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 263.000 (Hai trăm sáu mươi ba ngàn) đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

7. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

7.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

7.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ