vanban.org

Bản án 26/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 07/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tuyết N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo cáo Lê Tuyết N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 01 năm 2026. Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại đã nhận lại tiền, không yêu cầu bị cáo bồi thường, khắc phục hậu quả nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tuyết N - lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tuyết N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2026/HS-ST
Ngày: 07-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Diệu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tiến.

Ông Lê Quang Đầy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:

Lê Tuyết N (tên gọi khác: Không có), sinh năm 1975 tại xã T, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp E, xã T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị V; bị cáo không có chồng, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/01/2026 đến nay Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh C cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Bà Đoái Phượng L, sinh năm 1964; Địa chỉ: Ấp F, xã N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị Phượng L1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp E, xã T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

- Bà Trương Mỹ T, sinh năm 1966; Địa chỉ: Ấp G, xã T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

- Bà Võ Thu T1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bà Lư Thị Hồng G, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp E, xã T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp E, xã T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

- Bà Lâm Thị M, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp E, xã T, tỉnh Cà Mau; (xin vắng mặt).

- Bà Hồ Thị Phi N1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

- Bà Hà Thị R, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp E, xã T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2016 đến năm 2023, Lê Tuyết N mở nhiều dây hụi, có nhiều hụi viên tham gia, trong đó đã mãn nhiều dây hụi, còn lại 03 dây hụi 500.000 đồng, các dây hụi này N không có lập danh sách hụi viên, nhưng có mở sổ theo dõi việc bỏ thăm và hốt hụi. Hình thức hụi nửa tháng khui 01 lần (khui vào ngày 15 và ngày 30 âm lịch), mỗi kỳ khui hụi các hụi viên phải đến nhà N bỏ thăm kín, hụi viên bỏ thăm giá tiền cao nhất sẽ được hốt hụi. Mỗi lần giao tiền hụi, hụi viên hốt hụi trả tiền hoa hồng (tiền cò) cho N, với số tiền 350.000 đồng.

N đã lợi dụng sự tin tưởng của hụi viên và hụi viên không đi bỏ thăm để tự ý bỏ thăm, hốt và chiếm đoạt tiền của hụi viên. Ngoài ra, N còn gian dối bán khống 03 chân hụi để chiếm đoạt tiền của người mua hụi ở 02 dây hụi. Đến ngày 10/11/2023 (nhằm ngày 27/9/2023 ÂL) N mất khả năng chi trả tiền cho các hụi viên nên tuyên bố đình hụi. Cụ thể như sau:

- Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 15/01/2022 ÂL, tổng số 45 chân, dây hụi khui được 42 kỳ thì đình hụi, còn 03 kỳ chưa khui. Dây hụi này N không có tham chân hụi nào, hụi viên hốt 35 chân; N đã tự ý bỏ thăm hốt 07 chân gồm: Kỳ khui hụi thứ 4, khui ngày 29/02/2022 ÂL (do tháng 02 không có ngày 30), kỳ khui hụi thứ 9 khui ngày 15/5/2022 ÂL, kỳ khui hụi thứ 12 khui ngày 30/6/2022 ÂL, kỳ khui hụi thứ 13 khui ngày 15/7/2022 ÂL, kỳ khui hụi thứ 17 khui ngày 15/9/2022 ÂL, kỳ khui hụi thứ 18 khui ngày 30/9/2022 ÂL, N tự ý bỏ thăm hốt hụi, nhưng không nhớ lấy tên hụi viên nào, N bỏ thăm, chiếm đoạt số tiền 124.175.000 đồng

Trong dây hụi này còn 05 (năm) hụi viên với 10 (mười) chân hụi sống đã đóng đủ 42 kỳ với tổng số tiền thực tế là 162.730.000 đồng.

(1) Nguyễn Thị Phượng L1

03 chân

số tiền 48.819.000 đồng

(2) Hà Thị R

02 chân

số tiền 32.546.000 đồng

(3) Đoái Thị P Liễu

03 chân

số tiền 48.819.000 đồng

(4) Hồ Thị Phi N1

01 chân

số tiền 16.273.000 đồng

(5) Trương Mỹ T

01 chân

số tiền 16.273.000 đồng

Ngoài ra, trong dây hụi này, Lê Tuyết N còn bán khống 02 chân hụi cho hụi viên Đoái Phượng L tại kỳ hụi số 1 với số tiền bỏ hụi là 120.000 đồng, chiếm đoạt tổng số tiền 34.200.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm đoạt của Lê Tuyết N trong dây hụi này là 158.375.000 đồng.

- Dây hụi thứ hai: Mở ngày 15/4/2022 ÂL, tổng số 44 chân, dây hụi khui được 36 kỳ thì đình hụi, còn 08 kỳ chưa khui. Dây hụi này N không có tham chân hụi nào, hụi viên hốt 28 chân; N đã tự ý bỏ thăm hốt 08 chân, gồm: Kỳ khui hụi thứ 3 khui ngày 15/5/2022 ÂL, kỳ khui hụi thứ 6 khui ngày 30/6/2022 ÂL, kỳ khui hụi thứ 7 khui ngày 15/7/2022 ÂL. kỳ khui hụi thứ 8 khui ngày 30/7/2022 ÂL, kỳ khui hụi thứ 9 khui ngày 15/8/2022 ÂL, kỳ khui hụi thứ 10 khui ngày 30/8/2022 ÂL, kỳ khui hụi thứ 12 khui ngày 30/9/2022 ÂL, kỳ khui hụi thứ 13 khui ngày 15/10/2022 ÂL. Các kỳ khui hụi N tự ý bỏ thăm hốt hụi, nhưng không nhớ lấy tên hụi viên nào, tổng số tiền chiếm đoạt số tiền 132.343.000 đồng.

Trong dây hụi này còn 08 (tám) hụi viên với 16 (mười sáu) chân hụi sống đã đóng đủ 36 kỳ với tổng số tiền thực tế là 213.291.000 đồng.

(1) Nguyễn Thị P1 Linh05 chân

số tiền 66.730.000 đồng

(2) H1 chân

số tiền 40.038.000 đồng

(3) Đoái Thị P Liễu01 chân

số tiền 13.346.000 đồng

(4) Lăm Thị M1 chân

số tiền 26.692.000 đồng

(5) Trương Mỹ Thu01 chân

số tiền 13.346.000 đồng

(6) Võ Thu T1 01 chân

số tiền 13.346.000 đồng

(7) Nguyễn Thị Q

02 chân

số tiền 26.692.000 đồng

(8) Lư Thị Hồng G

01 chân

số tiền 13.010.000 đồng

Ngoài ra, trong dây hụi này, Lê Tuyết N còn bán khống 01 (một) chân hụi cho hụi viên Đoái Phượng L tại kỳ hụi số 1 với số tiền bỏ hụi là 120.000 đồng, chiếm đoạt tổng số tiền 16.720.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm đoạt của Lê Tuyết N trong dây hụi này là 149.063.000 đồng.

Như vậy, Lê Tuyết N đã hốt khống 15 chân hụi của hụi viên để chiếm đoạt số tiền 256.518.000 đồng và bán khống 03 chân hụi cho hụi viên với số tiền 50.920.000 đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt là 307.438.000 đồng

Hiện tại, về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm hình sự: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 11/CT-VKSCMU-KV5 ngày 28 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Cà Mau đã truy tố đối với bị cáo Lê Tuyết N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự, về tình tiết tăng nặng áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; tình tiết giảm nhẹ áp dụng điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù; về tang vật và trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong.

Bị cáo Lê Tuyết N2 không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố, trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Các bị hại đều vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 31/3/2022 (nhằm ngày 29/01/2022 ÂL) đến ngày 08/11/2022 (nhằm ngày 15/10/2022 ÂL) Lê Tuyết N đã lợi dụng các hụi viên không trực tiếp đến nhà bỏ thăm hốt hụi, bị cáo dung thủ đoạn gian dối tự ý hốt 15 (mười lăm) chân hụi và bán khống 03 (ba) chân hụi để chiếm đoạt tổng số tiền 307.438.000 (Ba trăm lẻ bảy triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn) đồng của các hụi viên nhằm mục đích sử dụng cá nhân, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Tuyết N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức rõ hành dùng thủ đoạn gian dối, lợi dụng lòng tin để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, song vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo vẫn thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhiều lần, đây là tình tiết tang nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo và gia đình đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho các bị hại và được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng…”, do đó bị cáo N còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Tịch thu lưu giữ hồ sơ vụ án 01 (một) tập học sinh, ghi số chân hụi, dây hụi, người tham gia và người hốt hụi được đánh số thứ tự từ 01 đến 72; 01 (một) tập học sinh ghi số chân hụi, dây hụi, người tham gia và người hốt hụi được đánh số thứ tự từ 01 đến 52 có chữ ký của Lê Tuyết N2.

. Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại đã nhận lại tiền, không yêu cầu bị cáo bồi thường, khắc phục hậu quả nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bà Lê Thị T2 “bà T2”, bà Lê Thị P2 “bà Năm P3, ông Lê Văn H “3 Hoàng”, bà Nguyễn Thị L2 “Nguyễn Thị L2”, ông Trương Công Đ, bà Hứa Chúc L3, bà Trương Thị T3, bà Trần Hoa P4, ông Huỳnh Thanh T4, bà Nguyễn Thị B, bà Huỳnh Thúy N3, bà Ngô Chúc L4 có tham gia dây hụi do bị cáo N mở, quá trình điều tra, truy tố không làm việc được nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về áp dụng điều luật, tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tuyết N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo cáo Lê Tuyết N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 01 năm 2026.

Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại đã nhận lại tiền, không yêu cầu bị cáo bồi thường, khắc phục hậu quả nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu lưu giữ hồ sơ vụ án 01 (một) tập học sinh ghi số chân hụi, dây hụi, người tham gia và người hốt hụi được đánh số thứ tự từ 01 đến 72; 01 (một) tập học sinh, ghi số chân hụi, dây hụi, người tham gia và người hốt hụi được đánh số thứ tự từ 01 đến 52 có chữ ký của Lê Tuyết N2.

Về án phí: Bị cáo Lê Tuyết N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng

Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ