- Tranh chấp gì? án hình sự — "nGUYỄN vĂN h - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2026/HS-ST Ngày: 25-3-2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Phượng và ông Phan Huy Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Nhi, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Như Ân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Huế mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2026/HSST, ngày 05/02/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2026/QĐXXST-HS ngày 11/3/2026, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không), giới tính: Nam; sinh ngày 14/03/2002, tại thành phố H; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường K, thành phố H; số căn cước công dân: 046202011604; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1972 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1972; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/10/2025 đến ngày 25/11/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Bị hại:
+ Anh Lê Quang H2, sinh ngày 10/11/2008 (có mặt). Người đại diện hợp pháp: Bà Hà Thị Á, sinh năm 1975 (có mặt). Địa chỉ: TDP L, phường K, thành phố H.
+ Anh Nguyễn Văn L, sinh ngày 31/7/2008 (vắng mặt). Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 (vắng mặt); bà Chế Thị Kim A, sinh năm 1972 (có mặt). Địa chỉ: TDP A, phường K, thành phố H.
+ Anh Hà Đăng A1, sinh ngày 28/6/2008 (có mặt). Người đại diện hợp pháp: Ông Hà Đăng L1, sinh năm 1970 (vắng mặt); bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1975 (có mặt). Địa chỉ: TDP P, phường K, thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Nguyễn Phi Đ, sinh năm 1964. Địa chỉ: TDP L, phường K, thành phố H. Vắng mặt.
+ Cháu Nguyễn Văn Nhật Q, sinh ngày 23/02/2011 (có mặt). Người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989 (có mặt); chị Dương Thị A2, sinh năm 1990 (vắng mặt). Địa chỉ: TDP G, phường K, thành phố H.
+ Chị Lê Thị H1, sinh năm 1972. Địa chỉ: TDP A, phường K, thành phố H. Có mặt.
+ Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1975. Địa chỉ: TDP P, phường K, thành phố H. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Trần Văn Y, sinh năm 1964. Địa chỉ: TDP G, phường K, thành phố H. Có mặt.
+ Anh Nguyễn Xuân Tấn Đ1, sinh năm 2000. Địa chỉ: TDP A, phường K, thành phố H. Có mặt.
+ Anh Lương Công H4, sinh năm 2008. Địa chỉ: TDP C, phường K, thành phố H. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 07/7/2008. Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu L2. Địa chỉ: TDP A, phường K, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Nguyễn Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Huế truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước với Lê Quang H2 nên vào ngày 28/5/2025, Nguyễn Văn Nhật Q đã gọi điện thoại hẹn H2 đến khu vực trường THPT Đ3 để giải quyết mâu thuẫn. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn uống cùng nhau, Lê Quang H2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75AD-028.88 chở theo Hà Đăng A1 và Nguyễn Văn L đến quán cà phê ông T3 ở gần chợ L3, phường K; L và A1 lấy mỗi người 4 vỏ chai nước ngọt Sting làm hung khí, di chuyển theo hướng Tỉnh lộ 8B đến khu vực đầu cổng Xóm B, thôn A, phường K, thành phố H mục đích tìm nhóm của Nguyễn Văn Nhật Q để giải quyết mâu thuẫn. Tại đây, cả nhóm thấy một nhóm thanh niên đang tụ tập gồm: Nguyễn Hữu T2, Lương Công H4, Nguyễn Xuân Tấn Đ1, Nguyễn Đình V, Nguyễn Văn Đạt T4 và Nguyễn Văn Nhật Q thì Hà Đăng A1 và Nguyễn Văn L mỗi người dùng 2 vỏ chai Sting ném về phía nhóm thanh niên này nhưng không trúng ai, rồi H2 điều khiển xe tăng ga bỏ chạy.
Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi đi ăn uống cùng bạn, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75E1-230.34 đi từ Xóm A ra Xóm B thì gặp Nguyễn Văn Nhật Q đang đứng cùng nhóm thanh niên tại đây. Q kể lại việc mình vừa bị nhóm thanh niên do H2 cầm đầu đến gây sự, ném vỏ chai rồi bỏ chạy. Nghe vậy, Nguyễn Văn H khuyên đừng đánh nhau nữa và điều khiển xe mô tô chở Q đi theo tuyến đường bê tông dọc sông B để về nhà. Khi đến trạm bơm nước bên đường, H dừng xe để đi vệ sinh, Q thấy một vỏ chai bia Huda để ở bên ống nước của trạm bơm nên cầm trên tay mang theo rồi cả hai lên xe tiếp tục di chuyển đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường bê tông dọc sông B với đường T, phát hiện xe mô tô do Lê Quang H2 điều khiển đang di chuyển từ hướng thôn V - N đi đến, H2 thấy H điều khiển xe mô tô chở sau Q nên điều khiển xe vượt qua một đoạn rồi dừng trước Hợp tác xã N1 để Hà Đăng A1 và Nguyễn Văn L mỗi người dùng vỏ chai Sting còn lại ném về phía xe của H nhưng không trúng ai. Do bực tức H liền điều khiển xe đuổi theo, còn Q ngồi sau dùng vỏ chai bia ném về phía sau xe của H2, khoảng cách giữa hai xe mô tô từ 10 - 15m, với tốc độ 60-70km/giờ. Khi đến Km 2 + 400m Tỉnh lộ 8B thuộc địa phận thôn G, xã H, thị xã H (cũ) do bị truy đuổi, H2 không làm chủ tốc độ đã để xe của mình điều khiển lao vào lề đường bên phải rồi tông vào trụ am thờ phía trước của nhà ông Nguyễn Phi Đ gây tai nạn. Cùng lúc này H với Q điều khiển xe chạy đến, thấy A1 bị ngã xe còn đứng dậy bỏ chạy vào bên trong nhà ông Đ nên H và Q lấy mỗi người 02 viên gạch bên đường, H ném một viên về phía A1 đang đứng bên trong nhà sau cánh cửa kính, làm cho tấm cửa kính bị vỡ, Q cũng ném một viên về phía A1 nhưng không trúng vào ai. Sau khi ném xong, thấy H2 và L bị thương nên H và Q không ném nữa mà lên xe quay về lại TDP A kể lại sự việc trên cho mọi người nghe rồi đi về nhà ngủ.
Hậu quả: Lê Quang H2, Nguyễn Văn L, Hà Đăng A1 bị thương cấp cứu tại Bệnh viện T5. 01 cái am thờ, 01 lá cửa kính cường lực bị hư hỏng, 02 khung kính và 02 lá cửa kính trước của ông Nguyễn Phi Đ bị hư hỏng.
Tại Bản kết luận số 425/25/KLTTCT ngày 03/10/2025 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở y tế thành phố H kết luận thương tích đối với Hà Đăng A1 như sau:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
+ Vết sẹo nhỏ vùng thái dương trái phía trên trước đỉnh tai, không được thể hiện tại hồ sơ bệnh án và hồ sơ điều tra: không xếp tỷ lệ.
+ Chẩn đoán theo dõi đụng dập phổi nhu mô phổi là chẩn đoán nghi ngờ không chắc chắn: không có cơ sở xếp tỷ lệ.
+ Diện sẹo mặt trước gối phải: 3%.
+ Gãy mảnh nhỏ cực trên xương bánh chè phải đã điều trị hiện tại không ảnh hưởng chức năng: 2%.
+ Vết sẹo vòng cung dưới gối phải: 2%.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Đăng A1 tại thời điểm giám định là: 7% (bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Vật gây, cơ chế, chiều hướng hình thành thương tích: các tổn thương trên cơ thể do tác động tương hỗ với diện tày theo hướng trước sau.
Tại Bản kết luận số 426/25/KLTTCT ngày 03/10/2025 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở y tế thành phố H kết luận thương tích đối với Lê Quang H2 như sau:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
+ Vết sẹo trung bình trán – cung mày – mi trên phải: 6%.
+ Vết biến đổi sắc tố da mi dưới phải: 0,5%.
+ Gãy xương thái dương phải: 8%.
+ Gãy thành ngoài hốc mắt phải: 5%.
+ Gãy các thành xoang hàm phải: 8%.
+ Vết sẹo niêm mạc môi dưới: 1%.
+ Vết biến đổi da vùng ngực hai bên: 1%
+ Gãy cung trước xương sườn 2-4 bên phải: 2%+2%+2%.
+ Chấn thương đụng dập nhu mô phổi phải: 6%.
+ Vết sẹo mặt mu bàn tay phải: 1%.
+ Gãy thân xương bàn III tay phải: 6%.
+ Gãy di lệch đầu dưới xương quay trái đã điều trị kết hợp xương, gãy bong mỏm trâm trụ, gãy xương thê ít ảnh hưởng vận động khớp cổ tay: 6%+6%+5%
+ Gãy nền xương đốt bàn III, IV, V tay trái không ảnh hưởng vận động bàn ngón tay: 16%
+ Gãy nền đốt gần ngón V tay trái: 2%.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Quang H2 tại thời điểm giám định là: 58% (năm mươi tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Vật gây, cơ chế, chiều hướng hình thành thương tích: các thương tích trên cơ thể do tác động tương hỗ với diện tày theo hướng trước sau.
Tại bản kết luận số 427/25/KLTTCT ngày 03/10/2025 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở y tế thành phố H kết luận thương tích đối với Nguyễn Văn L như sau:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
+ Vết sẹo nhỏ trán cung mày trái: 3%.
+ Gãy thành trước xoang hàm trái lan lên sàng hốc mắt: 9%.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L tại thời điểm giám định là: 12% (mười hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Vật gây, cơ chế và chiều hướng thương tích: các thương tích vùng mặt do tác động tương hỗ với diện tày theo hướng trước sau.
Về hiện trường vụ án: Hiện trường được xác định tại vỉa hè phía trước nhà ông Nguyễn Phi Đ tại Km 2+400m đường tỉnh lộ 8B thuộc thôn G, phường K, thành phố H. Hiện trường có các hướng tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp với vỉa hè trục đường tỉnh lộ 8B hướng đi tỉnh lộ 19, phía Nam giáp với vỉa hè trục đường tỉnh lộ 8B hướng đi Quốc lộ A, phía Đông giáp với đường tỉnh lộ 8B, phía Đông giáp với nhà ông Nguyễn Phi Đ. Đường tỉnh lộ 8B được đổ bê tông bằng, phẳng, rộng 7,2m, không có vạch kẻ đường, không bị che khuất tầm nhìn, hai bên là vỉa hè; đoạn đường trước nhà ông Nguyễn Phi Đ là đoạn đường cong, có đặt biển cảnh báo cách vị trí nơi xảy ra vụ việc 120m về phía Bắc. Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo hướng Bắc - Nam ghi nhận: Trên vỉa hè tại vị trí cách cột mốc Km 2+400m về phía Tây Nam 12,5m, cách mép đường bên phải tỉnh lộ 8B về phía Tây 0,27m phát hiện dấu vết vỡ khuyết bê tông KT (0,1 x 0,03)m (Đặt vị trí số 01). Trên vỉa hè tại vị trí cách vị trí số 01 về phía Tây Nam 0,8m, cách mép đường bên phải tỉnh lộ 8B về phía Tây 0,51m là điểm đầu dấu vết cày xước và mất bụi liên tục trên bề mặt KT (3,8 x 0,05)m chiều hướng từ đầu đến đuôi dấu vết theo hướng Bắc
- N (đặt vị trí số 02). Trên vỉa hè tại vị trí cách điểm cuối dấu vết số 02 về phía Đông Nam 1 mét, cách mép đường bên phải Tỉnh lộ 8B về phía Tây 1,32m là tâm của các mảnh vỡ bê tông và mảnh che am thờ trong diện (1,2 x 0,8)m (đặt vị trí số 03), phía trên bề mặt có bám dính chất màu đỏ. Trên vỉa hè tại vị trí cách tâm dấu vết số 03 về phía Nam 0,7m, cách mép đường bên phải Tỉnh lộ 8B về phía Tây 1,37m là tâm của dấu vết chất lỏng màu đỏ còn ướt trong diện (0,8 x 0,52)m (đặt vị trí số 04). Trên nền nhà ông Nguyễn Phi Đ tại vị trí cách tâm dấu vết số 04 về phía T 1,8m, cách mép đường bên phải Tỉnh lộ 8B về phía Tây 2,95m là tâm của dấu vết mảnh vỡ kính, gạch và chất lỏng màu đỏ dạng nhỏ giọt đã khô diện (2,4 x 1,7)m (đặt vị trí số 05), cánh cửa bên phải nhìn theo hướng Đ2 - Tây tương ứng với vị trí phía trên dấu vết số 05 bị nứt vỡ diện (2,2 x 0,6)m. Trên vỉa hè tại vị trí từ phía trước góc trái (nhìn từ hướng Đ - Tây) của nhà ông Nguyễn Phi Đ phát hiện 01 (một) xe mô tô biển số 75AD - 028.88 màu xanh đen, nhãn hiệu Wave alpha được dựng đứng, chiều từ đầu xe đến đuôi xe theo hướng Nam - B (đặt vị trí số 06), trục sau bánh xe cách tâm dấu vết số 05 về phía Nam 0,8m, cách mép đường bên phải Tỉnh lộ 8B về phía Tây 2,4m; trục trước bánh xe cách mép đường bên phải Tỉnh lộ 8B về phía Tây 2,6m. Trên tường phía trước nhà ông Nguyễn Phi Đ, tại vị trí cách trục bánh trước xe mô tô 75AD - 028.88 về phía Tây 0,68m, cách mép đường bên phải Tỉnh lộ 8B về phía Tây 3,08m phát hiện dấu vết chất lỏng màu đỏ dạng quệt chảy, diện (0,92 x 0,6)m (đặt vị trí số 07). Tại vị trí cách mặt đất 0,8 m phát hiện dấu vết vỡ khuyết tường xi măng gạch men kích thước (0,15 x 0,08)m; phía dưới nền nhà tại vị trí tương ứng dấu vết số 07 phát hiện chất lỏng màu đỏ dạng vũng còn ướt kích thước (0,6 x 0,25)m; trên bề mặt cạnh cửa liền kề với dấu vết số 07 phát hiện chất lỏng màu đỏ dạng chùi quệt; tại vị trí cách mặt đất 0,75m có dấu vết cong vênh, móp lún kim loại. Tại vị trí phía trên trục trước bánh xe mô tô 75AD - 028.88 là am thờ bê tông kích thước (0,56 x 0,58 x 0,56)m không có mái che, bị đổ nghiêng sang hướng Đông (đặt vị trí số 08). Trong quá trình khám nghiệm không phát hiện gì thêm. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã tiến hành xem xét dấu vết thân thể của Hà Đăng A1, Lê Quang H2 và Nguyễn Văn L.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ:
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe WAVE Alpha, màu xanh đen, BKS 75AD-028.88 (tình trạng xe bị hư hỏng sau tai nạn giao thông).
+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy BKS: 75AD-022.88, mang tên Nguyễn Thị H3, trú tại: TDP P, phường H, thị xã H.
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SH, màu bạc-đen, BKS: 75E1-230.34.
+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy BKS: 75E1-230.34, mang tên Lê Thị H1, trú tại: thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế.
+ 01 (một) giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số: 460200007713 mang tên Nguyễn Văn H, trú tại: xã H, thị xã H, thành phố H.
+ 01 (một) viên gạch loại 6 lổ, màu đỏ có kích thước (19,5 x 13 x 9)cm.
+ 01 (một) viên gạch lổ bị vỡ, màu đỏ có kích thước (19,5 x 7 x 9)cm.
+ 01 (một) viên gạch lổ bị vỡ, màu đỏ bám dính rêu xanh, có kích thước (19,5 x 10,5 x 9)cm.
+ 06 (sáu) mãnh gạch lổ bị vỡ, màu đỏ, bám dính đất màu đen. Mãnh lớn nhất có kích thước (10 x 9 x 4)cm, mãnh nhỏ nhất có kích thước (5,5 x 4,5 x 3)cm.
+ Nhiều mãnh kính vỡ, màu trắng, loại kính dày 8mm.
+ Nhiều mãnh vỡ của chai bia Huda, màu đỏ sẩm và vỏ chai nước ngọt nhãn hiệu Sting, màu trắng (trong đó có 02 cổ chai màu trắng).
Về xử lý vật chứng: Ngày 21/11/2025 Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại các vật chứng gồm xe mô tô Honda SH biển kiểm soát 75E1-230.34, xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 75AD-028.88, giấy phép lái xe hạng A1, giấy chứng nhận đăng ký xe cho các chủ sở hữu do không liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với các vật chứng còn lại đã chuyển đến Phòng Thi hành án khu vực 3 - Huế.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H cùng gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Lê Quang H2 số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường; đồng thời các bị hại Nguyễn Văn L, Hà Đăng A1 đều có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, đơn không yêu cầu bồi thường về dân sự đối với Nguyễn Văn H.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSKV3 ngày 05/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Huế truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Về trách nhiệm dân sự, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét; đề nghị tiêu huỷ vật chứng.
Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để bị cáo vừa cải tạo tại địa phương vừa có cơ hội được tiếp tục học tập, sửa chữa lỗi lầm.
Các bị hại, đại diện hợp pháp của các bị hại có mặt tại phiên toà trình bày: Các bị hại thừa nhận các bị hại cũng có lỗi, lỗi của các bị hại là nguyên nhân xảy ra vụ án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, tha thiết xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 -Huế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, vắng mặt bị hại Nguyễn Văn L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phi Đ và một số người làm chứng. Kiểm sát viên, bị cáo, các bị hại Lê Quang H2, Hà Đăng A1, người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Quang H2, Hà Đăng A1; người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn L là bà Chế Thị Kim A đề nghị xét xử vắng mặt bị hại Nguyễn Văn L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có lời khai của những người vắng mặt trong hồ sơ vụ án; vần đề bồi thường dân sự đã giải quyết xong nên việc vắng mặt bị hại L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phi Đ và một số người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án, công bố lời khai của những người vắng mặt tại phiên tòa là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội: Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 28/5/2025, tại Km 2+400m đường Tỉnh lộ 8B thuộc địa phận thôn G, xã H, thị xã H, thành phố H (nay là Tổ dân phố G, phường K, thành phố H), do bực tức vì bị nhóm của Lê Văn H5 khiêu khích nên Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng xe mô tô biển số kiểm soát 75E1-230.34 chở Nguyễn Văn Nhật Q ngồi phía sau dùng vỏ chai bia Huda ném, truy đuổi xe mô tô 75AD-028.88 do Lê Văn H5 điều khiển chở phía sau Nguyễn Văn L và Hà Đăng A1, làm H5 điều khiển xe mô tô 75AD-028.88 va vào phía trước nhà ông Nguyễn Phi Đ gây tai nạn. Hậu quả Lê Quang H2 bị thương với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 58%, Nguyễn Văn L bị thương với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 12% và Hà Đăng A1 với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 7%. Nguyễn Văn H mặc dù không trực tiếp dùng hung khí tác động lên thân thể của các bị hại nhưng bị cáo đã có hành vi điều khiển xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ chở Nguyễn Văn Nhật Q truy đuổi vận tốc lớn trong điều kiện ban đêm, trên tuyến đường cong làm Lê Quang H2 lâm vào tình trạng hoảng loạn, không làm chủ được tốc độ và tay lái, dẫn đến việc H2 điều khiển xe mô tô gây tai nạn với thương tích như trên nên hành vi của Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”. Nguyễn Văn L và Hà Đăng A1 có đơn yêu cầu không khởi tố hình sự đối với Nguyễn Văn H.
Do đó, bản Cáo trạng số 11/CT-VKSKV3 ngày 05/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Huế truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn Nhật Q là người đã trực tiếp tạo ra mâu thuẫn, chuẩn bị hung khí, cùng với H truy đuổi gây ra thương tích cho H2, L và A1 nên đã đồng phạm với H trong vụ án với vai trò giúp sức. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi Nguyễn Văn N Q chưa đủ 14 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về nguyên nhân, tính chất hành vi phạm tội: Nhóm của Lê Văn H5, Hà Đăng A1, Nguyễn Văn L có hành vi gây gỗ với Nguyễn Văn Nhật Q từ trước, không có sự tham gia của bị cáo H. Khi kết thúc sự việc, bị cáo H đã gặp, khuyên nhủ đồng thời chở Q đang trên đường về nhà. Trên đường đi thì H5, A1, L gặp H và Q nên tiếp tục có hành vi ném vỏ chai bia về phía xe của H. Đây là hành vi nguy hiểm của các bị hại, có tính chất khiêu khích. Trong tình huống đó, bị cáo H đã điều khiển xe chở Q rượt đuổi theo xe của H5 làm Hậu bị ngã xe, gián tiếp làm H5, L, A1 bị thương tích. Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo H diễn ra trong bối cảnh bị các bị hại khiêu khích trước, đe dọa đến sự an toàn của bị cáo và Q nên các bị hại cũng có một phần lỗi, chính hành vi trái pháp luật của bị hại là nguyên nhân khởi phát, góp phần dẫn đến vụ án. Vì vậy, khi lượng hình cần đánh giá toàn diện tính chất, mức độ hành vi, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và lỗi của các bên để quyết định hình phạt tương xứng, bảo đảm công bằng, đúng pháp luật.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại cũng có lỗi; tại phiên tòa các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại tha thiết xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về căn cứ quyết định hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo là sinh viên, có nơi cư trú rõ ràng. Nguyên nhân xảy ra vụ án cũng có một phần lỗi của các bị hại. Việc phạm tội của bị cáo H mang tính bột phát, không xuất phát từ bản chất xem thường pháp luật. Bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm, cải tạo tại cộng đồng cũng đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo, cho bị cáo có cơ hội được tiếp tục học tập, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội, vừa thể hiện sự nhân đạo nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo đã cùng gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Lê Văn H5 số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại đã nhận tiền bồi thường. Tại phiên toà các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Ngày 21/11/2025 Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại các vật chứng gồm xe mô tô Honda SH biển kiểm soát 75E1-230.34, xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 75AD-028.88, giấy phép lái xe hạng A1, giấy chứng nhận đăng ký xe 75E1-230.34, giấy chứng nhận đăng ký xe 75AD-028.88 cho các chủ sở hữu, không có ai có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với các vật chứng: 03 viên gạch 06 lỗ; 06 mãnh gạch vỡ; nhiều mãnh vỡ thuỷ tinh của vỏ chai H6 và vỏ chai nước ngọt Sting. Tất cả được niêm phong trong túi ni lông kính. Đây là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
Về vấn đề khác:
Xe mô tô do Lê Quang H2 điều khiển va vào phía trước nhà ông Nguyễn Phi Đ làm vỡ bê tông và mái che am thờ cúng, sau đó H và Q mỗi người nhặt gạch ở đường ném vào nhà ông Đ làm vỡ một tấm kính cường lực. Do những tài sản trên đã cũ và hư hỏng từ trước nên ông Đ không yêu cầu bồi thường; mặt khác H và Q chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên không xem xét xử lý về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại thời điểm xảy ra vụ việc là vào đêm khuya, lưu lượng người và phương tiện tham gia giao thông không có, không gây cản trở hoạt động giao thông và cũng không gây ồn ào, mất an ninh trật tự trên địa bàn phường K nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý các đối tượng trong vụ án về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/3/2026).
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy 03 viên gạch 06 lỗ; 06 mãnh gạch vỡ; nhiều mãnh vỡ thuỷ tinh của vỏ chai H6 và vỏ chai nước ngọt Sting. Tất cả được niêm phong trong túi ni lông kính. (Các vật chứng có đặc điểm mô tả như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/3/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Huế).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Huế; - VKSND thành phố Huế; - VKSND khu vực 3 - Huế; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Huế; - Phòng PV06 - Công an thành phố Huế; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Huế; - THADS thành phố Huế (Phòng THADS khu vực 3 – Huế); - Bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Anh Nga |