- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Th-Chu Văn D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bàn Thị Th ly hôn với anh Chu Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2026/HNGĐ-ST Ngày 23-3-2026 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Trọng Trung
2. Ông Lê Duy Bình.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai.
Ngày 23 tháng 3 năm 2026 tại Phòng xử án Toà án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2026/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2026 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bàn Thị Th, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Thôn Phường Cong, xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Chu Văn D, sinh năm 1997;
Nơi ĐKHK: Thôn Phường Cong, xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai; Hiện đang chấp hành án tại phân trại số 2, trại giam Ninh Khánh, Bộ công an - Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 14/01/2026 và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, chị Bàn Thị Th trình bày:
Chị và anh D chung sống như vợ chồng từ cuối năm 2018, đến ngày 25/02/2019 thì anh chị làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Nậm Tha, huyện Văn Bàn (Nay là xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai). Quá trình chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, không tin tưởng lẫn nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên bảo nhưng không có kết quả, cuộc sống chung không hoà thuận, hạnh phúc. Năm 2021 do mâu thuẫn trầm trọng, anh chị đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Sau đó anh D vi phạm pháp luật và bị Toà án nhân dân khu vực 2-Quảng Ninh xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Hiện anh D đang chấp hành án tại Trại giam Ninh Khánh. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho anh chị ly hôn.
Tại bản tự khai ngày 27/01/2026, anh Chu Văn D trình bày, về ngày tháng năm đăng ký kết hôn, nơi đăng ký kết hôn như chị Th đã trình bày nêu trên. Anh xác định vợ chồng có mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, gia đình hai bên đã khuyên bảo nhưng không có kết quả. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Hiện anh đang chấp hành án tại Trại giam Ninh Khánh theo bản án số 02/2025/HS-ST ngày 18/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2- Quảng Ninh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Anh xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể hàn gắn được nên nhất trí ly hôn với chị Bàn Thị Th.
Về con chung: Nguyên đơn chị Bàn Thị Th và bị đơn anh Chu Văn D đều xác nhận có 01 con chung là cháu Bàn Thị Thuỳ D - Sinh ngày: 13/4/2019, hiện tại cháu D đang ở cùng chị Th. Chị Th có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, anh D cũng nhất trí vì anh đang chấp hành án không có điều kiện chăm sóc con chung. Chị Th không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn đều trình bày không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự theo quy định. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai các tài liệu, chứng cứ nhưng không hoà giải được vụ án vì vắng mặt bị đơn do đang phải chấp hành án và nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Bàn Thị Th khởi kiện xin ly hôn với anh Chu Văn D và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng chăm sóc con chung khi ly hôn. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa bị đơn anh Chu Văn D vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh giữ nguyên ý kiến đã trình bày như trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy việc xét xử vắng mặt anh D là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh D là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ năm 2020 do bất đồng quan điểm, dẫn đến thường xuyên cãi, chửi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Anh chị đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Sau đó anh D vi phạm pháp luật và hiện đang chấp hành án tại Trại giam Ninh Khánh làm ảnh hưởng đến cuộc sống vợ chồng. Do mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy, chị Th đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh D là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Qúa trình chung sống, chị Th và anh D có 01 con chung là cháu Bàn Thị Thuỳ D - Sinh ngày: 13/4/2019, hiện tại cháu D đang ở cùng chị Th. Chị Th có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, anh D cũng nhất trí vì anh đang chấp hành án không có điều kiện chăm sóc con chung. Chị Th không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Xét thấy, chị Th có mức thu nhập đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng con chung, có nhà ở ổn định. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của con chung, cần giao cháu Bàn Thị Thuỳ D cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Do chị Th không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự đều trình bày không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Bàn Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Khoản 4 Điều 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bàn Thị Th ly hôn với anh Chu Văn D.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Bàn Thị Th và anh Chu Văn D chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Xử giao cháu Bàn Thị Thuỳ D - Sinh ngày: 13/4/2019 cho chị Bàn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; Anh Chu Văn D không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, anh Chu Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Bàn Thị Th phải chịu tiền án phí ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 04 ngày 15/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Chị Bàn Thị Th đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 8-Lào Cai(2); - Phòng THADS khu vực 8-Lào Cai; - UBND xã C, tỉnh Lào Cai; - Đương sự (02); - Lưu HS, TA, VP . CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên |