- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị S - Đặng Văn B"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị S.
- Căn cứ chính? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2026/HNGĐ-ST Ngày: 16-01-2026 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Thiết
Bà Nguyễn Hà Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Luyến – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hứa Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án thụ lý số 161/2025/TLST-HNGĐ, ngày 15/10/2025 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/12/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 31/12/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị S, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Thôn X, xã H, tỉnh Tuyên Quang.
2. Bị đơn: Anh Ma Văn B, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Thôn X, xã H, tỉnh Tuyên Quang.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai, nguyên đơn chị S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ma Văn B sau một thời gian tự do tìm hiểu thì đã tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H1 (nay là xã H1), tỉnh Tuyên Quang vào ngày 27/12/2010, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại nhà anh B ở thôn X, xã H. Cuộc sống vợ chồng chung sống hòa thuận, bình thường thời gian đầu đến tháng 4/2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh B lười làm, ham chơi, không tu chí làm ăn, thường xuyên rượu chè, hay chửi bới vợ con. Anh B khi say rượu thường hay đánh đập vợ con, nhiều đêm còn đuổi vợ con ra khỏi nhà. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, kinh tế gia đình lại khó khăn nên chị đã đi làm xa nhà, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Anh B tính tình không thay đổi, mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm vào năm 2024, anh B say rượu cầm hung khí đuổi chị ra khỏi nhà nên chị đã phải về nhà em cậu ở thôn Th, xã H ở, vợ chồng ly thân nhau. Chị xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng kéo dài, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung, tên là Ma Văn T, sinh ngày 15/01/2010 và Ma Thị H, sinh ngày 12/2/2012. Ly hôn chị nhận nuôi cháu H, còn cháu T để anh B nuôi, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
- Về tài sản chung: Anh chị tự thoả thuận, chị không lấy tài sản gì cả khi ly hôn, không đề nghị Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh chị không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án bị đơn anh Ma Văn B không đến Toà án để làm việc. Toà án tiến hành xác minh, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương với ông Ma Văn S - trưởng thôn X, xã H, tỉnh Tuyên Quang, kết quả thể hiện: Chị Đặng Thị S, sinh năm 1984 và anh Ma Văn B, sinh năm 1989 là công dân có nơi thường trú tại thôn X, xã H, tỉnh Tuyên Quang. Tuy nhiên thời gian gần đây anh chị đi làm xa nhà, thi thoảng có mặt ở địa phương về thăm con và gia đình. Chị S và anh B là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H1, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã H, tỉnh Tuyên Quang) vào năm 2010. Sau khi được gia đình 2 bên cưới hỏi theo phong tục địa phương, anh chị về chung sống với nhau tại nhà anh B ở thôn X, xã H. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh B bị tai nạn lao động không làm được gì nặng nhọc, chị S vì kinh tế gia đình nên có xin đi làm công nhân xa nhà nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Bên cạnh đó anh B thường xuyên rượu chè, không tu chí làm ăn nên vợ chồng thường hay cãi chửi nhau. Chị S không chịu được nên đã về nhà em cậu ở thôn Th, xã H ở, vợ chồng ly thân nhau. Do đó chính quyền địa phương xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã đến mức trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, anh chị có 02 con chung, tên là Ma Văn T, sinh ngày 15/01/2010 và Ma Thị H, sinh ngày 12/2/2012. Hiện tại cháu T đang ở cùng anh B ở thôn X, còn cháu Hở cùng chị S ở thôn Th. Về tài sản chung, chị S và anh B có một số tài sản chung. Về vay nợ chung, chị S và anh B không có vay nợ chung.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị S vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt với nội dung giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh B mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Tuyên Quang tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.
Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị S:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị S được ly hôn với Ma Văn B.
+ Về con chung: Giao con chung là cháu Ma Thị H, sinh ngày 12/2/2012 cho chị S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Giao con chung là cháu Ma Văn T, sinh ngày 15/01/2010 cho anh B trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
+ Về tài sản chung; Về vay nợ chung: Do các đương sự tự thoả thuận về tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn chị S là người dân tộc thiểu số (dân tộc Dao) sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:
Chị Đặng Thị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Ma Văn B, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là Tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh B có nơi thường trú và sinh sống tại thôn X, xã H, tỉnh Tuyên Quang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân.
Về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự:
Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh B không đến Toà án để làm việc. Toà án tiến hành xác minh nơi cư trú và các mối quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, vay nợ chung của các đương sự cũng như tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Việc anh B không đến Toà án để làm việc thể hiện ý thức không tuân thủ pháp luật, không thực hiện hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Toà án đã xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh B kết hôn với nhau từ năm 2010. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại thôn X, xã H, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh B thường xuyên rượu chè, không tu chí làm ăn, hay chửi bới đánh đập vợ con, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Bên cạnh đó vì điều kiện kinh tế khó khăn nên chị S phải đi làm công nhân xa nhà, tình cảm ngày càng phai nhạt. Mâu thuẫn của anh chị lên tới đỉnh điểm vào năm 2024, anh B uống rượu rồi đuổi chị Sự ra khỏi nhà, nên chị S phải về nhà em cậu ở thôn Th, xã H ở. Vợ chồng ly thân nhau từ đó đến nay, không ai quan tâm gì đến ai. Trong thời gian sống ly thân hai vợ chồng không hề có sự hỏi han, quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, vì vậy tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, ai cũng có cuộc sống của riêng mình. Chị S xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh B để giải phóng cho cả hai người đi tìm cuộc sống mới.
Hội đồng xét xử thấy rằng anh chị sống ly thân nhau, không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, không còn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian vợ chồng ly thân, anh chị cũng không có động thái gì hàn gắn quay về chung sống, đoàn tụ. Điều đó thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã đến mức độ trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị S được ly hôn với anh B là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
* Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 con chung tên là Ma Vă T, sinh ngày 15/01/2010 và Ma Thị H, sinh ngày 12/2/2012. Hiện tại cháu T đang ở cùng anh B ở thôn X, còn cháu H ở cùng chị S ở thôn Th. Quá trình giải quyết vụ án, chị S có ý kiến muốn được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H, còn cháu Tự để anh B nuôi, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Tại biên bản lấy lời khai con chung, cháu H thể hiện nguyện vọng muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn; còn cháu T thể hiện nguyện vọng muốn được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Hiện cháu H đang học 8, trường THCS H còn cháu T đã nghỉ học. Để đảm bảo điều kiện nuôi con, tránh sự xáo trộn, sự phù hợp về phát triển tâm sinh lý cháu H là con gái ở với mẹ sẽ phù hợp, còn cháu T là con trai ở với bố, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu H cho chị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giáo cháu T cho anh B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
* Về tài sản chung, vay nợ chung: Do các đương sự tự thoả thuận về tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Nguyên đơn chị S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được miễn toàn bộ do là người dân tộc thiểu số (dân tộc Dao), sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị đơn anh B không phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân.
Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị S.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị S được ly hôn với anh Ma Văn B.
Giấy chứng nhận kết hôn số 120 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H1, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã H, tỉnh Tuyên Quang) cấp ngày 27/12/2010 cho chị Đặng Thị S và anh Ma Văn B không còn giá trị pháp lý sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Ma Thị H, sinh ngày 12/2/2012 cho chị Đặng Thị S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Giao con chung là cháu Ma Văn T, sinh ngày 15/01/2010 cho anh Ma Văn B trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho nguyên đơn chị S. Bị đơn anh Ma Văn B không phải chịu tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND khu vực 2 – Tuyên Quang; - THADS tỉnh Tuyên Quang; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Ngọc |