vanban.org

Bản án 26/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 05/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn B 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02/01/2025. Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn B - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HS-ST
Ngày: 06/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n - Chủ toạ phiên toà : Ông Phạm Minh Tùng.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Dững.

Cá c Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Chí;

2. Ông Nguyễn Việt Trung;

3. Ông Bùi Hữu Soi;

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tinh̉ Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04, 06 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025 đối với:

- Bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn B, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1960, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Mua bán; Con ông: Trần Văn Kiến, sinh năm: 1920(chết); Con bà: Võ Thị Lành, sinh năm: 1921(chết); Bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo thứ 06; Vợ: Ngô Kim H, sinh năm 1960; Có 03 người con (lớn nhất sinh năm 1980 nhỏ nhất sinh năm 1984); Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 02/01/2025; Tạm giam ngày 11/01/2025; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn B: Luật sư Huỳnh Thị Thơm – Văn phòng Luật sư Nguyễn Minh Hiếu, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp.

- Bị hại:

1. Mai Thanh S (đã chết);

Người đại diện hợp pháp cho bị hại S: Mai Xuân N, sinh năm 1997;

Địa chỉ: Ấp Tân Trọng, xã Mỹ An Hưng, tỉnh Đồng Tháp.

2. Ngô Kim H, sinh năm 1960;

Địa chỉ: Số 338, ấp An Hòa, xã Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Trần Thị Kim Phụng, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Số 338, ấp An Hòa, xã Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

2. Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1970;

Địa chỉ: Số 76B, ấp Bình An, xã Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

3. Lữ Kim C, sinh năm 1960;

Địa chỉ: Ấp An Hòa, xã Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

4. Đỗ Văn T, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Ấp An Hòa, xã Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

5. Trương Thanh T, sinh năm 1955;

Địa chỉ: Ấp Bình Hiệp A, xã Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến ta ̣i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Trần Văn B và bà Ngô Kim H là vợ chồng, có 03 người con. Hàng ngày ông B và bà Hoàng mua bán tạp hóa, lấy tên “Út Thảo” tại ấp An Hòa, xã Định An, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Do có bệnh lý tiểu đường và bệnh tai biến đã nhiều năm nên ông B thường hay ghen tuông nghi ngờ bà Hoàng có quan hệ bất chính ông Mai Thanh Sơn. Từ đó ông B chuẩn bị 01 cây kéo (chỉ còn phần lưỡi kéo) cán kéo có chiều dài 17cm, lưỡi kéo dài 12cm sắc nhọn, cán kéo được bọc bằng mũ nhựa màu xanh dương dài 05cm, cất giấu gần nơi vị trí ông B thường xuyên ngồi bán giày, dép; ý định để đâm ông S.

Khoảng 09 giờ sáng ngày 01/01/2025 ông S đến tiệm tạp hóa của ông B mua giày. Trong lúc ông S và bà Hoàng đang đứng nói chuyện mua bán với nhau phía trong nhà thì ông B đang ngồi ngay kệ dép phía trước nhà cách khoảng 8m, nhìn vào thấy nên nghi ngờ, ghen tuông ông S và bà Hoàng nói chuyện tình cảm. Ngay lập tức ông B dùng tay phải cầm phần cán cây kéo còn phần lưỡi kéo sắt nhọn hướng về phía trước, đi đến nơi ông S đang đứng đối diện, dùng tay phải cầm kéo đâm thẳng nhiều nhát trúng vào vùng bụng và người ông S; ông S dùng tay cầm 01 cái ghế đánh trả lại trúng vào tay phải ông B đang cầm cây kéo trên tay đâm trượt trúng vào bụng bà Hoàng đang can ngăn.

Sau khi sự việc xảy ra, ông S bỏ chạy ra đường trên người có nhiều máu nên được quần chúng nhân dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp, Do vết thương nặng và đã tử vong tại Bệnh viện. Còn bà Hoàng được đưa đến Trung tâm y tế huyện Lấp Vò khâu lại vết thương. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội ông B đến Công an xã Định An đầu thú.

* Bản kết luận giám định tử thi số: 197/KLGĐTT-KTHS ngày 16/02/2025 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp. Kết luận: Mai Thanh Sơn, chết bị đa vết thương do vật sắc nhọn tác động xuyên thấu bụng gây đứt thủng đa phủ tạng, mất máu cấp và được điều trị phẫu thuật cấp cứu hậu phẫu ngày thứ nhất nhưng không hiệu quả. Sốc rối loạn đông máu sau phẫu thuật là nguyên nhân tử vong.

Quá trình điều tra thu giữ tại hiện trường gồm: 01 bên lưỡi kéo có chiều dài tổng thể 17cm, chiều dài mũi 12cm sắc nhọn, cán nhựa màu xanh dương dài 5cm. Phần mũi kéo kim loại sắc nhọn, phần rộng nhất trên mũi 1,0cm, cán nhựa tròn đường kính 2,5cm. dùng để đâm nạn nhân Sơn tại vị trí số 4 và thu giữ 01 cái áo vải thun ngắn tay, có họa tiết màu nâu hồng đen, phía trước bên trái có một vết rách vải khoảng 1,5cm áo đã đã qua sử dụng của bà Hoàng.

Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo Trần Văn B (Trần Kim Phụng con ruột) đã bồi thường khắc phục 307.600.000 đồng (gồm tiền mai táng phí 73.600.000 đồng + tiền tổn thất tinh thần 234.000.000 đồng). Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ông B.

Tại Cáo trạng số 34/CT-VKSĐT-P2 ngày 23 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Trần Văn B về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm c khoản 3 Điều 142 của Bộ luâ ̣t hinh sự̀

.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bi ̣ cáo Trần Văn B phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bi ̣ cáo Trần Văn B mứ c hinh pha ̣̀

t từ 15 năm đến 16 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02/01/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã bồi thường xong theo yêu cầu của bị hại nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Đề nghị Tòa án tuyên như phần nội dung quyết đi ̣nh bản Cáo tra ̣ng đã nêu.

Đại diện hợp pháp cho bị hại phát biểu: Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường xong nên không yêu cầu về hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử đúng người đúng tội đúng quy định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu: Thống nhất theo tội danh, điều luật truy tố bị cáo. Bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có trình độ học vấn thấp, bị bệnh tiểu đường lâu năm do nhất thời ghen tuông mới gây ra hành vi phạm tội. Bị cáo cũng tự nguyện đi đầu thú và đã tác động gia đình bồi thường khắc phục xong cho gia đình bị hại được đại diện cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phần tranh luận, bị cáo Trần Văn B thống nhất với lời bào chữa của Luật sư nên không tham gia tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng mô tả. Bị cáo khai nhận do xuất phát từ mâu thuẫn trong cuộc sống; Bị cáo B thường hay ghen tuông nghi ngờ bà Hoàng vợ mình quan hệ bất chính bị hại Mai Thanh Sơn nên bị cáo chuẩn bị sẵn 01 lưỡi kéo có chiều dài 17cm, mũi kéo kim loại dài 12cm là vật sắt nhọn, hung khí nguy hiểm đâm nhiều nhát vào vùng bụng bị hại S dẫn đến tử vong.

Lờ i khai nhâ ̣n tội của bi ̣ cáo phù hợp vớ i lờ i khai của những người làm chứng, vật chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn B đã phạm vào tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

“Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a)………………………;

………………………..;

n) Có tính chất côn đồ;”

[3] Bị cáo là người đã thành niên, có khả năng điều khiển hành vi, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn ghen tuông vô cớ giữa Bị cáo B và bị hại S mà bị cáo đã có hành vi chuẩn bị sẵn hung khí nguy hiểm cố tình tước đoạt tính mạng bị hại đến hậu quả bị hại S tử vong.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người bị hại một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến kỷ cương pháp luật Nhà Nước. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là việc làm cần thiết.

[5] Về tinh tiề

́t tăng nă ̣ng, giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự̀

:

- Về tình tiết tăng nặng: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại toàn bộ theo yêu cầu của đại diện bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, sau khi phạm tội bị cáo đi đầu thú; bản thân bị cáo đang bị tiểu đường biến chứng, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 bên lưỡi kéo có chiều dài tổng thể 17cm, chiều dài mũi 12cm sắc nhọn, cán nhựa màu xanh dương dài 5cm. Phần mũi kéo kim loại sắt nhọn, phần rộng nhất trên mũi 1,0cm, cán nhựa tròn đường kính 2,5cm; 01 áo vải thun ngắn tay, có họa tiết màu nâu hồng đen, phía trước bên trái có một vết rách vải khoảng 1,5cm áo đã qua sử dụng.

[8] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về các tình tiết giảm nhẹ là có căn cứ nên chấp nhận.

[9] Xét thấy phát biểu của Luật sư bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị giảm nhẹ hình phạt là có căn cứ, chấp nhận. Tuy nhiên, việc đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hơn là chưa phù hợp vì hành vi của bị cáo là côn đồ và gây hậu quả chết người nên không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hơn cho bị cáo.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phì hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về các vấn đề khác: Đối với bà Ngô Kim H (vợ Bị cáo B), có một vết thương dài 01cm đã khâu hậu quả không lớn. Xét thấy Bị cáo B không cố ý gây thương tích cho bà Hoàng và bà Hoàng có đơn yêu cầu miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn B 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02/01/2025.

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong nên không xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bên lưỡi kéo có chiều dài tổng thể 17cm, chiều dài mũi 12cm sắc nhọn, cán nhựa màu xanh dương dài 5cm. Phần mũi kéo kim loại sắt nhọn, phần rộng nhất trên mũi 1,0cm, cán nhựa tròn đường kính 2,5cm;

- 01 (một) áo vải thun ngắn tay, có họa tiết màu nâu hồng đen, phía trước bên trái có một vết rách vải khoảng 1,5cm áo đã qua sử dụng.

(Các vật chứng trên hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/8/2025).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; các điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp cho bị hại; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người nêu trên vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ