- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày 23 - 9 – 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Thành.
Bà Nông Thị Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Huệ - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3
- Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 04/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Hoàng Văn T; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16 tháng 11 năm 1985 tại xã Đ, tỉnh Cao Bằng.
Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm P, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Con ông Hoàng Văn G (đã chết) và bà Triệu Thị M; Vợ: Hoàng Thị Đ; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 24/10/2023, bị Công an huyện T (cũ), tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 15.000.000 đồng về hành vi cố ý vận chuyển hàng hóa nhập lậu.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam T, Trại tạm giam Công an tỉnh C từ ngày 08/6/2025. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị Đ, sinh năm 1988. Nơi thường trú: Xóm P, xã Đ, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22h00 ngày 08/6/2025, tổ công tác Đồn Biên phòng N chủ trì phối hợp với Đội đặc nhiệm Phòng phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại đường liên thôn thuộc xóm B, xã Đ, tỉnh Cao Bằng, phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn T, sinh năm 1985, trú tại xóm P, xã Đ, tỉnh Cao Bằng đang có hành vi tàng trữ 02 gói chất bột màu trắng. T khai nhận là ma túy (loại Heroine). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng niêm phong gồm 02 gói chất bột màu trắng; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 11K1 - 154.87 và số tiền 3.800.000 đồng.
Hồi 14 giờ 00 ngày 09/6/2025, Đồn Biên phòng N phối hợp với Phòng K Công an tỉnh C tiến hành mở niêm phong, cân xác khối lượng vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả cân số vật chứng thu giữ đối với Hoàng Văn T có khối lượng 1,1119 gam. Tại kết luận giám định số 227 ngày 17/6/2025 của Phòng K, Công an tỉnh C kết luận: mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Quá trình điều tra Hoàng Văn T khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng 20h30 ngày 08/6/2025, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11K1 - 154.87 đi từ nhà tại xóm P, xã Đ, tỉnh Cao Bằng đến xóm L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến xóm L, T gặp và nhờ một người đàn ông không quen biết đi mua giúp ma túy với số tiền 1.400.000 đồng. Người đàn ông đồng ý nhận tiền và đi khoảng 15 phút thì quay lại đưa cho T 01 gói ni lông màu đen bên trong có chứa chất ma túy. Nhận được ma túy, T chia thành 02 gói được gói bằng ba lớp giấy bạc vàng, giấy và tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và cất giấu vào mũ của áo mưa treo ở bên phải phía trước của xe mô tô. Sau đó, T điều khiển xe mô tô về nhà. Khi đến đoạn đường liên xóm B, xã Đ, tỉnh Cao Bằng thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để bản than sử dụng.
Về tài sản tạm giữ xác định được: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 11K1 - 154.87 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo dung để đi mua ma túy sử dụng; Số tiền 3.800.000 đồng là tiền bị cáo bán thuốc lá lá của gia đình mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội. Tờ tiền 5.000đ bị cáo dùng để gói ma túy.
Tại bản Cáo trạng số: 15/CT-VKSKV3 ngày 04/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã truy tố Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo xác nhận Cáo trạng phản ánh đúng diễn biến hành vi phạm tội của mình, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bị cáo đã sử dụng ma túy từ năm 2023, loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là hít. Ngày 08/6/2025, bị cáo đến xóm L gặp và nhờ một người đàn ông không biết tên địa chỉ mua giúp ma túy. Sau đó chia làm 02 gói rồi đi về nhà thị bị lực lượng chức năng bắt giữ. Số tiền tạm giữ là tiền bị cáo bán thuốc lá của gia đình mà có, xe máy tạm giữ do vợ bị cáo mua đứng tên vợ bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đ khai: Chị là vợ của bị cáo, cách đây khoảng 05 năm thì chị có tích góp mua được 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 11K1 - 154.87 do chị đứng tên chủ sở hữu để làm phương tiện đi lại. Ngày 08/6/2025 chồng lấy xe đi mua ma túy chị hoàn toàn không biết. Nay đề nghị trả lại xe cho chị.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 12 đến 24 tháng tù. Về vật chứng và tài sản tạm giữ, đề nghị tịch thu tiêu hủy số heroine thu giữ; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 11K1 - 154.87; Trả lại cho bị cáo số tiền 3.800.000 đồng; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tờ tiền 5.000đ. Buộc bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo, người liên quan nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Hồi 22h00 ngày 08/6/2025, tổ công tác Đồn Biên phòng N chủ trì phối hợp với Đội đặc nhiệm Phòng phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại đường liên thôn thuộc xóm B, xã Đ, tỉnh Cao Bằng, phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn T, sinh năm 1985, trú tại xóm P, xã Đ, tỉnh Cao Bằng đang có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 1,1119 gam. Mục đích để bản thân sử dụng.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện nên bất chấp thực hiện với lỗi cố ý. Khi bị bắt đang tàng trữ trái phép 1,1119 gam ma túy, loại Heroine, đây là tình tiết định khung được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét khi lượng hình.
Xét về nhân thân: Bị cáo không có tiền án tiền sự, nhưng bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ sử dụng chất ma túy trái phép là vi phạm pháp luật mà vẫn cố tình thực hiện, thể hiện việc chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt nên là người có nhân thân xấu. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm đang có chiều hướng gia tăng hiện nay.
. Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Số H thu giữ là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 11K1 - 154.87 là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đây là tài sản chung của bị cáo và chị Đ trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung hợp nhất, không phân chia theo phần. Trong trường hợp chị Đ có yêu cầu được bồi thường một phần giá trị chiếc xe thì chị có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung bằng vụ án dân sự khác. Đối với tờ tiền mệnh giá 5.000đ có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 3.800.000đ, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được đây là tiền bị cáo bán thuốc lá lá của gia đình có được, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người sử dụng ma túy, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
. Về nguồn gốc ma túy, T khai nhờ một người đàn ông lạ mặt, không biết tên, địa chỉ tại khu vực xóm L mua giúp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ mở rộng điều tra vụ án để xử lý trong vụ án này là đúng quy định của pháp luật. [7]. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Hoàng Văn T 12 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 08/6/2025.
3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi “02 tờ giấy kẻ ô ly, 02 tờ giấy ăn, 02 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 vỏ phong bì vật chứng vụ Hoàng Văn T xảy ra ngày 08/6/2025”.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi “Số 277/KL-KTHS hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn T xảy ra ngày 08/6/2025”.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tờ tiền mệnh giá 5.000đ.
- Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 11K1 - 154.87, số máy JA39E2350816, số khung RLHJA392XMY231292.
Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Cao Bằng.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Chị Đ có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSND tỉnh; - Trại tạm giam CA tỉnh; - VKSND KV3; - Tổ công tác điều tra địa bàn Trùng Khánh; - Phòng THADS KV3; - UBND xã Đình Phong (bằng TB); - Bị cáo; - Người CQLVNVLQ; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nông Văn Tùng |