- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Văn C bị xét xử tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày 26 tháng 8 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo và ông Huỳnh Văn Tâm
Thư ký phiên toà: Ông Trương Trọng Tín - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 13 - An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 07/TB-TA ngày 25 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 23/2025/HSST-QĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Lâm Văn C, sinh năm 1993, tại Campuchia; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và ch ở: Tổ 06, khóm Vĩnh P, phường A, thành phố Châu Đ, tỉnh An Giang (nay là phường Châu Đ, tỉnh An Giang); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: không quốc tịch; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị L; vợ là Nguyễn Thị T; Anh, em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 17/4/2024 cho đến nay. (có mặt)
* Người phiên dịch cho bị cáo Lâm Văn C: Ông Chau Sóc X, sinh năm 1981, Biên dịch viên tiếng Khmer – Báo và Phát thanh - Truyền hình tỉnh An Giang. (có mặt)
* Bị hại: Ông Lê Chí T, sinh năm 1988, nơi cư trú: Tổ 05, khóm Vĩnh P, phường Châu Đ, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
* Người làm chứng:
- Ông Đoàn Phú T, sinh năm 1988, nơi cư trú: Số 162/2, tổ 06, khóm Vĩnh P, phường Châu Đ, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Ngọc Khánh D, sinh năm 1986, nơi cư trú: Sô 172/5, tổ 06, khóm Vĩnh P, phường Châu Đ, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1961, nơi cư trú: Số 162, đường Louis Pasteur, tổ 05, khóm Vĩnh P, phường Châu Đ, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Ông Đoàn Phú H, sinh năm 1983, nơi cư trú: Số 162/2, tổ 06, khóm Vĩnh P, phường Châu Đ, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955, nơi cư trú: Số 163, tổ 04, khóm Vĩnh P, phường Châu Đ, tỉnh An Giang. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/12/2024, Đoàn Phú T tổ chức uống rượu bia và hát karaoke cùng với Nguyễn Ngọc Khánh D, Đoàn Phú H và Lê Chí T tại nhà của Huỳnh Thị K (dì ruột của Tuấn) tại tổ 06, khóm Vĩnh Phú, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang (nay là phường Châu Đốc, tỉnh An Giang). Lúc này, T thấy Lâm Văn C đi bộ ngang nên rủ C vào uống rượu bia chung, C đồng ý và rủ thêm Lâm Văn M (em ruột C) cùng vào uống. Trong lúc uống rượu bia C nói với T “cho thằng em tôi hát một bài để nó đi về nhà”, khi T hát xong C giật lấy micro trên tay T nhưng T không đưa và tiếp tục hát. Tức giận việc T không nhường cho M hát nên C kêu M đi về nhà, còn C đi qua ngồi gần T. Lúc này T đang ngồi hát trên ghế đá thì C đứng lên ở tư thế đối diện T dùng chân phải đá theo hướng từ phải sang trái trúng vào vùng mặt của T, làm đầu T đập vào vách tường phía sau, gây thương tích thì được T can ngăn đưa C về nhà, còn T được đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang tại phường Châu Đốc điều trị. Đến ngày 10/12/2024, Tạo có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với C.
* Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 48/25/KLTTCT-TTPY ngày 07/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang đối với ông Lê Chí T kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Sẹo đính sau phải, kích thước (1.5 × 0.2)cm, sẹo phẳng, màu hồng, bờ tương đối sắc, tỷ lệ 01%.
- Sưng bầm mắt trái, má trái hiện không để lại thương tích, tỷ lệ 00%.
- Chấn thương đầu mặt:
+ Nứt sọ trán phải, tỷ lệ 08%; nứt sọ trán trái, tỷ lệ 08%.
+ Gãy xương chính mũi, tỷ lệ 07%.
+ Gãy xương hàm trên bên trái, tỷ lệ 08%.
+ Gãy cung gò má trái, tỷ lệ 08%.
- Chấn thương đụng giập mắt trái không gây giảm thị lực; thị lực mắt phải 10/10, mắt trái 10/10, tỷ lệ 00%.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần. Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của ông Lê Chí T, áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư tại thời điểm giám định là: 34% (ba mươi bốn phần trăm).
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 03/7/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - An Giang đã truy tố bị cáo Lâm Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lâm Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị H khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Lâm Văn C từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa bị hại, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lâm Văn C đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, kết luận giám định cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/12/2024 tại khu vực thuộc tổ 06, khóm Vĩnh Phú, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang (nay là phường Châu Đốc, tỉnh An Giang), trong lúc uống rượu do tức giận việc bị hại T không nhường cho M (em ruột bị cáo) hát nên bị cáo C đã có hành vi dùng chân phải đá theo hướng từ phải sang trái trúng vào vùng mặt của T, làm đầu Tạo đập vào vách tường phía sau gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 34%.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo C đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (tội phạm rất nghiêm trọng).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với l i cố ý, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng v n cố ý thực hiện với mục đích giải quyết mâu thu n cá nhân, chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo là người dân tộc, không biết chữ, thành phần lao động nghèo nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự, bị hại không yêu cầu xử lý hình sự bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo đã trưởng thành, chỉ vì mâu thu n cá nhân mà bị cáo dùng chân đá gây thương tích cho bị hại. Lẽ ra bị cáo nên có cách xử sự hòa nhã, tìm hiểu nguyên nhân để có cách giải quyết ổn thỏa, nhằm giữ gìn tình làng xóm, trái lại bị cáo thể hiện tính hung hăng, xem thường pháp luật, sức khỏe của người khác. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lâm Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Lâm Văn C 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 17/4/2025.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lâm Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp tỉnh An Giang; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang; - Công an tỉnh An Giang; - Viện KSND khu vực 13 – An Giang; - Phòng THADS khu vực 13 – An Giang; - Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang; - Phân trại tạm giam khu vực Châu Đốc; - Thi hành án hình sự; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA Lƣơng Ngọc Dũng |