vanban.org

Bản án 26/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Mai Đức K 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Đức K "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Mai Đức K 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Giao lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HS-ST
Ngày: 24 - 7 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Vinh

Ông Vũ Văn Nở

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bạch Thu Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 150/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 160/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2025/HSST-QĐ ngày 24 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Mai Đức K, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2000, tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa (nay là xã V, tỉnh Khánh Hòa); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn S (sinh năm 1961) và bà Nguyễn Thị Trúc A (sinh năm 1979);

Tiền án: 02.

- Bản án số 63/2020/HS-ST ngày 04/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/7/2020.

- Bản án số 323/2022/HSST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2024.

Tiền sự: Ngày 23/01/2025, bị Công an huyện D, tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” và xử phạt số tiền 1.500.000 đồng.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1988; nơi cư trú: 6 T, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa); vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Nguyễn Công T, sinh năm 2002; nơi cư trú: 2 N, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa); vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Thanh T1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (nay là xã C, tỉnh Khánh Hòa); vắng mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

1. Ông Trần Xuân H, sinh năm 1997; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Huỳnh Nhật P, sinh năm 2004; vắng mặt tại phiên tòa.

3. Ông Đỗ Hữu Hoàng T2, sinh năm 1997; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 20/12/2024, Mai Đức K đi bộ đến trước tiệm S1, số B đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa) thấy cửa trước mở, trong sân đang dựng một xe máy Yamaha Janus màu đỏ đen, biển kiểm soát 79N3-067.23, số khung RLCSEC820NY176544, số máy E3Y8E176563 của bà Nguyễn Thị Mỹ L nên nảy sinh ý định trộm cắp. Quan sát thấy không có người nên K đi vào bên trong tiệm thì thấy ông Nguyễn Công T nằm ngủ trên ghế, bên cạnh để một điện thoại di động Iphone 13 Promax, dung lượng 256GB, màu xanh. K thấy chìa khóa xe máy để trên bàn nên đến lấy chìa khoá và lấy điện thoại của ông T rồi bỏ ra ngoài mở khóa xe máy trên điều khiển xe bỏ đi.

Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, ông T kiểm tra định vị phát hiện điện thoại của mình ở vị trí khu vực nhà trọ thuộc thôn T, xã D, huyện D nên cùng bà L đến Cơ quan Công an trình báo và giao nộp hình ảnh camera ghi nhận hành vi K trộm cắp tài sản.

Quá trình điều tra, khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, Cơ quan Công an phát hiện xe máy Yamaha Janus màu đỏ đen đang gắn biển số 79Z1-595.37 (do K đổi biển số 79N3-067.23 với người đàn ông chưa rõ lai lịch) để trong nhà trọ tại thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa (nay là xã D, tỉnh Khánh Hòa) và trong người của K cất giấu điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, 256GB, màu xanh nên đưa K cùng tang vật về trụ sở làm việc. Thời điểm Cơ quan Công an tới kiểm tra nhà trọ có mặt các đối tượng Trần Xuân H, Nguyễn Hữu Hoàng T3, Huỳnh Nhật P. Tại Cơ quan Công an, Mai Đức K đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1249/KL-HĐĐGTS ngày 23/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N, kết luận: 01 xe máy YAMAHA - JANUS biển kiểm soát 79N3-067.23 trị giá 22.995.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, dung lượng 256GB trị giá 12.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Mai Đức K trộm cắp là 35.495.000 đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 123/CT-VKSNT ngày 22/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa) đã truy tố bị cáo Mai Đức K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa giữ nguyên kết luận truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Đức K từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, 256GB, màu xanh: Đã trả chủ sở hữu Nguyễn Công T.

- Đối với 01 (một) xe máy Yamaha Janus màu đỏ đen, số khung RLCSEC820NY176544, số máy E3Y8E176563: Đã trả chủ sở hữu Nguyễn Thị Mỹ L (Bị hại không có yêu cầu gì về biển kiểm soát 79N3-067.23).

- Đối với 01 (một) biển số 79Z1-595.37: Đề nghị chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K để tiếp tục điều tra làm rõ.

- Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen có hoa văn màu vàng phía trước, 01 (một) áo gió màu đen dài tay, , 01 (một) dây chuỗi hạt đeo tay: Đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) đồng hồ hiệu Citizen có dây đeo màu nâu: Đề nghị trả lại cho bị cáo.

Đối với hành vi của đối tượng đổi biển số 79Z1-595.37 với biển số 79N3-067.23 do Mai Đức K trộm cắp, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục điều tra làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Trần Xuân H, Nguyễn Hữu Hoàng T3, Huỳnh Nhật P có mặt tại nhà trọ thôn T, xã D, huyện D (nay là xã D, tỉnh Khánh Hòa) vào thời điểm K bị bắt nhưng không biết K trộm cắp tài sản nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bị cáo đồng ý với nội dung cáo trạng đã truy tố, tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy hồ sơ đã có lời khai và sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Mai Đức K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 05 giờ, ngày 20/12/2024, tại tiệm S1, số B đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa), Mai Đức K đã lén lút lấy trộm 01 xe máy Yamaha Janus biển kiểm soát 79N3-067.23 trị giá 22.995.000 đồng của bà Nguyễn Thị Mỹ L và 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, dung lượng 256GB, màu xanh trị giá 12.500.000 đồng của ông Nguyễn Công T. Tổng giá trị tài sản Mai Đức K trộm cắp là 35.495.000 đồng.

Ngoài ra, bị cáo có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, lần gần đây nhất năm 2022, bị cáo đã bị kết án với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp có tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

4.1. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến đến tài sản hợp pháp của bị hại; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng không lo tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Nguyễn Công T vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ vụ án thể hiện họ không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi của đối tượng đổi biển số 79Z1-595.37 với biển số 79N3-067.23 do Mai Đức K trộm cắp, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục điều tra làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Trần Xuân H, Nguyễn Hữu Hoàng T3, Huỳnh Nhật P có mặt tại nhà trọ thôn T, xã D, huyện D (nay là xã D, tỉnh Khánh Hòa) vào thời điểm K bị bắt nhưng không biết K trộm cắp tài sản nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về vật chứng vụ án:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, 256GB, màu xanh: Đã trả chủ sở hữu Nguyễn Công T.

- 01 (một) xe mô tô Yamaha Janus màu đỏ đen, số máy E3Y8E176563, số khung RLCSEC820NY176544: Đã trả chủ sở hữu Nguyễn Thị Mỹ L.

- Đối với 01 (một) biển số 79Z1-595.37: Quá trình điều tra xác minh, biển số 79Z1-595.37 của xe máy Yamaha Janus màu trắng, số khung RLCSEC810KY087078, số máy E3X8E087086 do bà Lê Thị Thanh T1 mua mới năm 2021 sau đó bán lại cho người đàn ông không rõ lai lịch trên mạng xã hội. Do đó, cần giao lại biển số 79Z1-595.37 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K để tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định.

- Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen có hoa văn màu vàng phía trước, 01 (một) áo gió màu đen dài tay, 01 (một) dây chuỗi hạt đeo tay: Xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) đồng hồ hiệu Citizen có dây đeo màu nâu: Xét thấy đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Mai Đức K 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K 01 (một) biển số 79Z1-595.37 để tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen có hoa văn màu vàng phía trước, 01 (một) áo gió màu đen dài tay, 01 (một) dây chuỗi hạt đeo tay.

Trả lại cho bị cáo Mai Đức K 01 (một) đồng hồ hiệu Citizen có dây đeo màu nâu.

Tình trạng vật chứng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Mai Đức K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ