vanban.org

Bản án 26/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Tân P là vợ chồng.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Thanh T. Chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Tân P có 01 con chung là Võ Nguyễn Phú Q, sinh ngày 15/02/2024. Sau khi chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Tân P ly hôn, giao con chung Võ Nguyễn Phú Q, sinh ngày 15/02/2024 chị Võ Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Tân P là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 02-4-2025
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Thảo

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phú Hữu

Ông Nguyễn Hồng Thơ

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Phan Minh Trí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2025/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình – ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 101/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Võ Thị Thanh T, sinh năm 2000;

Nơi thường trú: Tổ E, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Nguyễn Tân P, sinh năm 1986;

Nơi thường trú: Tổ G, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị T có mặt, anh P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nguyên đơn Võ Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tân P được cha mẹ hai bên gia đình có tổ chức đám cưới vào ngày 12 và 13 tháng 11 năm 2022 tại nhà, địa chỉ ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Tuy nhiên, chị và anh P chưa đăng ký kết hôn tại có quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là do khác biệt về suy nghĩ, lối sống. Chị và anh P đã ly thân từ tháng 02 năm 2024 đến nay. Hiện nay, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Mặc dù, cả hai đã cho nhau nhiều cơ hội để hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nhận thấy, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị yêu cầu tòa án không công nhận chị và anh Nguyễn Tân P là vợ chồng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị và anh P có 01 con chung là Võ Nguyễn Phú Q, sinh ngày 15/02/2024. Hiện nay, con chung Võ Nguyễn Phú Q, sinh ngày 15/02/2024 đang sống cùng chị tại địa chỉ tổ E, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Võ Nguyễn Phú Q. Chị không yêu cầu anh Nguyễn Tân P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không có yêu cầu nào khác, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.

Anh Nguyễn Tân P vắng mặt tại phiên toà và có văn bản trình bày ý kiến thống nhất với lời trình bày của chị T về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung. Nay chị T yêu cầu ly hôn anh đồng ý; về con chung anh thống nhất theo yêu cầu của chị T; về tài sản chung, nợ chung anh không yêu cầu toà án giải quyết và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1.1] Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn Nguyễn Tân P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tân P là phù hợp với quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định nguyên đơn chị Võ Thị Thanh T yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung với anh Nguyễn Tân P, như vậy quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về hôn nhân gia đình - ly hôn, nuôi con giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và bị đơn anh Nguyễn Tân P có địa chỉ tại xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Tân P chung sống với nhau từ năm 2022 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn là không tuân thủ đúng quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng…”

Như vậy, theo quy định pháp luật thì hôn nhân giữa chị T và anh P không có giá trị pháp lý, không được pháp luật công nhận.

Tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và 16 của Luật này”. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ giữa chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Tân P là vợ chồng theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Tân P có 01 con chung là Võ Nguyễn Phú Q, sinh ngày 15/02/2024. Hiện nay, con chung Võ Nguyễn Phú Q, sinh ngày 15/02/2024 đang sống cùng chị T tại địa chỉ tổ E, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Võ Nguyễn Phú Q. Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh P thống nhất với yêu cầu của chị T về con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay con chung Võ Nguyễn Phú Q dưới 36 tháng tuổi và từ khi chị T và anh P không sống chung đến nay con chung đều sống chung và gần gũi với chị T ổn định thời gian dài, phát triển tốt về mọi mặt. Đồng thời, anh Nguyễn Tân P cũng thống nhất giao con chung chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, tiếp tục giao con chung Võ Nguyễn Phú Q, sinh ngày 15/02/2024 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Thanh T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Tân P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Tân P là vợ chồng.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Thanh T. Chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Tân P có 01 con chung là Võ Nguyễn Phú Q, sinh ngày 15/02/2024. Sau khi chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Tân P ly hôn, giao con chung Võ Nguyễn Phú Q, sinh ngày 15/02/2024 chị Võ Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay, con chung đang sống cùng chị T tại địa chỉ tổ E, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không được quyền nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp người không được quyền nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được quyền nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không được quyền nuôi con chung.

Người được quyền nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không được quyền nuôi con chung trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013343 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Chị Võ Thị Thanh T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con.

Anh Nguyễn Tân P không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con.

Chị Võ Thị Thanh T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Tân P vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ