vanban.org

Bản án 26/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị S là vợ chồng.

Về con chung: 04 người con tên Trần Kha T, sinh ngày 20/01/1989; Trần Văn P1, sinh ngày 15/9/1990; Trần Thị Đ, sinh ngày 10/3/1994 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày 30/10/2003, bốn con chung đều đã trưởng thành và lao động được Về tài sản chung: Không. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và Gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị S là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 26/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 18-07-2025
“V/v ly hôn giữa
ông Phong và bà Sal”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Anh Đoan.

Ông Võ Thái Quân.

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 12, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên Tòa: Ông Trương Minh Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 12 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 216/2025/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình – ly hôn” Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXX-ST ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn P, sinh năm 1969.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1972.

Cùng trú tại: tổ A, ấp H, xã H, tỉnh An Giang (địa chỉ cư trú trước đây tổ A, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang)

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 03/4/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Văn P trình bày:

Hôn nhân của ông P, bà S do tìm hiểu rồi chung như vợ chồng năm 1988, không tổ chức lễ cưới và không đăng ký kết hôn, sống hạnh phúc đến 2009 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách làm ăn, vợ đem tiền cho anh trai mượn nhưng không trả, vợ chồng vì thế hay cải nhau, không tìm được tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng ly thân với nhau từ năm 2011 đến nay. Nay tình cảm không còn ông P yêu cầu được ly hôn với bà S.

-Về con chung: Vợ chồng có 04 người con tên Trần Kha T, sinh ngày 20/01/1989; Trần Văn P1, sinh ngày 15/9/1990; Trần Thị Đ, sinh ngày 10/3/1994 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày 30/10/2003, các con chung đều đã trưởng thành và lao động được.

- Về quan hệ tài sản: Không .

- Về quan hệ nợ phải thu, phải trả: không.

Bị đơn bà Nguyễn Thị S vắng mặt từ khi Toà án thụ lý nên không có ý kiến trình bày.

Ngày 12/5/2025 ông Trần Văn P có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ: Theo công văn trả lời của Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh An Giang(trước đây là xã P, huyện P, tỉnh An Giang) về cung cấp thông tin đăng ký kết hôn của ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị S. Qua tra cứu sổ bộ kết hôn lưu tại UBND xã H, tỉnh An Giang (trước đây là xã P, huyện P, tỉnh An Giang) không tìm thấy thông tin của bà Nguyễn Thị S, ông Trần Văn P.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân của bà S và ông P được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không tổ chức lễ cưới và không đăng ký kết hôn. Ông P, bà S đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Đề nghị HĐXX không công nhận quan hệ giữa bà S và ông P là vợ chồng.

Về con chung: 04 người con tên Trần Kha T, sinh ngày 20/01/1989; Trần Văn P1, sinh ngày 15/9/1990; Trần Thị Đ, sinh ngày 10/3/1994 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày 30/10/2003, các con chung đều đã trưởng thành và lao động được. Về tài sản chung, nợ chung: không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: ông Trần Văn P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Nguyễn Thị S nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: bà S với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại xã H, tỉnh An Giang(địa chỉ trước đây là xã P, huyện P, tỉnh An Giang) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 12, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà S, ông P đã được tống đạt đầy đủ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Toà nhưng ông, bà không có mặt nên HĐXX xét xử vắng mặt ông, bà theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Ông P và bà S chung sống vợ chồng năm 1988, không có đăng ký kết hôn. Ông P và bà S chung sống vợ chồng có đủ điều kiện đăng ký kết hôn, nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ giữa ông Trần Văn P, bà Nguyễn Thị S là vợ chồng.

Về con chung: 04 người con tên Trần Kha T, sinh ngày 20/01/1989; Trần Văn P1, sinh ngày 15/9/1990; Trần Thị Đ, sinh ngày 10/3/1994 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày 30/10/2003, bốn con chung đều đã trưởng thành và lao động được

Về tài sản chung: không.

Về nợ phải thu, phải trả chung của vợ chồng: Không.

Về án phí: ông Trần Văn P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 14; Điều 53 và Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án;

1.Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị S là vợ chồng.

2.Về con chung: 04 người con tên Trần Kha T, sinh ngày 20/01/1989; Trần Văn P1, sinh ngày 15/9/1990; Trần Thị Đ, sinh ngày 10/3/1994 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày 30/10/2003, bốn con chung đều đã trưởng thành và lao động được

3.Về tài sản chung: Không.

4.Về nợ phải thu, phải trả chung: Không.

5.Về án phí: ông Trần Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012029 ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân(nay là Phòng Thi Hành Án Dân Sự Khu vực 12, tỉnh An Giang). Ông P không còn nộp thêm án phí.

Bà Nguyễn Thị S không phải chịu án phí.

Bà S, ông P vắng mặt tại phiên tòa, thời kháng cáo đối với bản án là 15 ngày tính từ ngày ông, bà nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ