- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Nga-Lê Văn Tuấn Em"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST Ngày 31 tháng 7 năm 2025 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tý và bà Lê Hiếu Xuyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Lê Văn Tuấn E, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh An Giang.
(Bà N có mặt, ông Tuấn E vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa; nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà và ông Lê Văn T Em được mai mối và chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M (nay là xã T), tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống với nhau về vấn đề kinh tế tiền bạc, ông Tuấn E không lo lắng gì cho vợ con, vợ chồng thường xuyên cự cãi, làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ tháng 12/2023 bà và ông Tuấn E đã sống ly thân cho đến nay. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Tuấn E.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Tuấn K, sinh ngày 06-8-2016; hiện con chung đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, bà không yêu cầu ông Tuấn E cấp dưỡng cho con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có.
* Đối với bị đơn ông Lê Văn T Em:
Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang) đã tống đạt các văn bản tố tụng, đồng thời triệu tập ông Tuấn E tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ, nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.
Tại phiên tòa;
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Lê Văn Tuấn E vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa:
- Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Lê Văn T Em; về con chung, giao con chung tên Lê Tuấn K, sinh ngày 06-8-2016 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng; bà N không yêu cầu ông Tuấn E cấp dưỡng cho con chung, về tài sản chung, nợ chung là không tranh chấp nên không đặt ra xem xét; buộc bà N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình; bị đơn có địa chỉ xã M (nay là xã T), tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà N, ông Tuấn E là hôn nhân hợp pháp, ông bà chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M (nay là xã T), tỉnh An Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09-4-2016. Trong quá trình chung sống, hôn nhân của ông bà không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống nên ông bà đã sống ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay. Nay bà N yêu cầu ly hôn với ông Tuấn E. Xét thấy, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa bà N, ông Tuấn E đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N, cho bà N được ly hôn với ông Tuấn E là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Tuấn K, sinh ngày 06-8-2016. Khi ly hôn, bà N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu K. Xét thấy, từ tháng 12/2023 đến nay cháu K sống chung với bà N, để ổn định cuộc sống cho cháu và cũng theo nguyện vọng của cháu K muốn được sống chung với bà N; Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu K cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Cấp dưỡng cho con: Bà N không yêu cầu ông Tuấn E cấp dưỡng cho cháu K, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà N xác định, bà và ông Tuấn E không có nợ chung; Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều: 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Lê Văn Tuấn E.
2. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Tuấn K, sinh ngày 06-8-2016. Hiện bà N đang nuôi con chung.
Ông Lê Văn T Em có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0021796 ngày 21-3-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - An Giang); bà N đã nộp xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Bà N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Tuấn E có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Các đương sự; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - UBND xã Tây Phú; - Lưu HS, AV. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Dương Thị Bé Thi |