- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Quyên - Nguyễn Văn Giang"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị ùi Thị Q.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| T N NH N N THỊ XÃ KINH MÔN T NH H I N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n án s : 26/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 4 -2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
N Ớ
N H XÃ H I H N H VI T N M
T
N NH N N THỊ XÃ KINH MÔN, T NH H I DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét sử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Nhi và bà Đinh Thị Tin
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh H i Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân th x Kinh Môn tham gia phiên tòa: Ông Tăng á Thắng – Ki m sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh H i Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý s : 412/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử s 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị ùi Thị Q, sinh năm 1993; nơi ĐKHKTT: KDC P, phường A, thị xã K, tỉnh H i Dương; hiện ở: Thôn T, xã T, thị xã K, tỉnh H i Dương. Có mặt.
2. ị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1991; địa chỉ: KDC P, phường A, thị xã K, tỉnh H i Dương. Có mặt.
3. Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1963; địa chỉ: S nhà A, ngõ A, ph Q, KDC P, phường A, thị xã K, tỉnh H i Dương. Vắng mặt.
N I UN VỤ N
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/12/2024, các tài liệu có trong hồ sơ, ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn G tự nguyện kết hôn, được U ND thị trấn K nay là Phường A, thị xã K, tỉnh H i Dương cấp Giấy chứng nhận kết hôn s 09 ngày 22/01/2018. Sau khi kết hôn anh chị chung s ng cùng nhà b mẹ chồng chị. Cuộc s ng vợ chồng hầu như không có hạnh phúc, sau khi cưới chưa được 1 năm đã mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh G thỉnh tho ng đi u ng rượu say về chửi chị, vợ chồng bất đồng quan đi m, không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Gia đình 2 bên đã động viên, hòa gi i nhưng tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng vẫn không có gì c i thiện. Đến tháng 4/2023, lần đó anh G u ng rượu say về chửi và đuổi chị đi, chị ph i về nhà b mẹ đẻ sinh s ng. Hai bên thông gia cũng đã nói chuyện hòa gi i, nhưng chị thấy không th đoàn tụ, b mẹ chị cũng tôn trọng ý kiến của anh chị. Từ đó vợ chồng s ng ly thân. Nay chị xét thấy tình c m vợ chồng không còn, cuộc s ng hôn nhân không có hạnh phúc, không còn cơ hội đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án gi i quyết cho chị được ly hôn với anh G.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh Minh V, sinh ngày 03/9/2018 (giới tính: Nữ), hiện đang ở cùng anh G; cháu Nguyễn Khánh Minh C1, sinh ngày 30/11/2021 (giới tính: Nữ), hiện đang ở cùng chị. Sau khi ly hôn, chị xin tiếp tục nuôi cháu C1, đ anh G tiếp tục nuôi cháu V, chị không yêu cầu anh G ph i cấp dưỡng nuôi con. Chị làm nhân viên ngân hàng, thu nhập bình quân 20 triệu đồng/tháng.
Về tài s n chung, vay nợ: Chị không yêu cầu toà án gi i quyết.
- Tại Bản tự khai, biên bản hòa giải, anh Nguyễn Văn G trình bày: (Về điều kiện kết hôn như chị Q trình bày trên). Sau khi kết hôn anh chị chung s ng cùng nhà b mẹ đẻ anh. Cuộc s ng vợ chồng ban đầu hạnh phúc, quá trình chung s ng có những mâu thuẫn nhỏ, do hai vợ chồng không trao đổi thẳng thắn mà giữ trong lòng, th hiện ra bằng việc không hài lòng. Có khi anh đi u ng rượu cùng bạn bè về thì vợ chồng có x y ra to tiếng. Đến ngày 27/4/2023, sau khi anh đi u ng rượu về, vợ chồng x y ra to tiếng, chị Q nói nặng lời với anh, sau đó chị Q đi về nhà ngoại. mẹ đẻ anh có gọi chị Q lại đ nói chuyện, phân tích nhưng chị Q vẫn tiếp tục cãi nhau với anh và lên xe về nhà đẻ ở T. Một nguyên nhân nữa, cũng do tính chất công việc của chị Q, đó là chị Q hay đi làm về muộn, không chăm lo được cho gia đình. Anh chị s ng ly thân từ tháng 4/2023 đó đến nay gần 2 năm. Anh nghĩ sự việc vẫn chưa đến mức vợ chồng ph i chia tay. Do vậy, nay chị Q xin ly hôn, anh không đồng ý mà mu n vợ chồng đoàn tụ, tập trung nuôi dạy con cái. Về con chung: Anh chị có 02 con chung, cháu V đang ở cùng anh, còn cháu C1 đang ở cùng chị Q (như chị Q trình bày trên). Do anh vẫn mong mu n vợ chồng đoàn tụ nên chưa có quan đi m về việc người trực tiếp nuôi con khi ly hôn. Anh làm kỹ sư Công ty H, thu nhập bình quân 17 triệu đồng/tháng.
Về tài s n chung, vay nợ: Anh chưa mu n ly hôn nên chưa yêu cầu toà án gi i quyết về tài s n.
- Tại Biên bản lấy lời khai, ông Nguyễn Văn C – bố của anh Nguyễn Văn G cho biết: Anh G và chị Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn anh G và chị Q về ở tại gia đình ông. Anh G và chị Q chung s ng hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nhỏ nhặt, đôi lúc x y ra tranh cãi, lời qua tiếng lại với nhau. Kho ng tháng 4/2023 anh chị x y ra tranh cãi lớn, sau buổi tranh cãi chị Q bỏ về ở cùng b mẹ đẻ tại xã T, thị xã K. Dưới góc độ là phụ huynh, ông cũng đã c gắng khuyên gi i nhưng nay chị Q làm đơn xin ly hôn anh G, ông vẫn mong mu n chị Q suy nghĩ lại đ anh chị đoàn tụ. Nếu chị Q vẫn kiên quyết xin ly hôn thì đó là quyền của chị Q, đề nghị Tòa án gi i quyết theo quy định. Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh Minh V, sinh ngày 03/9/2018, hiện đang ở cùng anh G và gia đình ông và cháu Nguyễn Khánh Minh C1, sinh ngày 30/11/2021, hiện đang ở cùng chị Q và gia đình chị Q. Trường hợp anh G được giao nuôi con, gia đình ông tiếp tục tạo điều kiện về chỗ ở, sinh hoạt cho anh G chăm sóc cháu.
- Tại bản trình bày ý kiến, bà Nguyễn Thị L – mẹ đẻ chị Q cho biết: Quá trình chung s ng, giữa chị Q và anh G có x y ra mâu thuẫn, vài lần chị Q ph i về nhà bà ở một thời gian, bà động viên và chị Q đã về đoàn tụ. Tuy nhiên, từ tháng 4/2023, sau khi chị Q, anh G mâu thuẫn căng thẳng, chị Q về ở nhà bà từ đó đến nay không về đoàn tụ với anh G. Nay chị Q xin ly hôn anh G thì việc này do anh chị quyết định. Trường hợp chị Q được giao nuôi con, bà tạo điều kiện cho mẹ con chị Q về chỗ ở cũng như giúp chị Q chăm sóc con cái.
- Xác minh tại khu dân cư, bà Mạc Thị S - Trưởng khu dân cư cho biết: Anh G, chị Q sinh s ng trong địa bàn khu dân cư bà qu n lý. Quá trình anh chị chung s ng, bà được biết anh chị có x y ra mâu thuẫn từ kho ng 2 năm gần đây, chị Q nhiều lần bỏ đi rồi lại quay về, còn cụ th nguyên nhân mâu thuẫn của anh chị thì bà không nắm được. * Quá trình gi i quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa gi i đ vợ chồng chị Q, anh G đoàn tụ nhưng không thành, anh G mong mu n vợ chồng đoàn tụ nhưng chị Q kiên quyết xin ly hôn.
T i phiên tòa:
- Nguyên đơn – chị Q vẫn giữ nguyên quan đi m xin ly hôn với anh G, gi i quyết việc nuôi con chung, không yêu cầu Toà án gi i quyết về tài s n.
- ị đơn – anh G trình bày: Nếu chị Q kiên quyết xin ly hôn thì anh nhất trí với điều kiện chị Q ph i đ anh nuôi c 02 con vì chị Q làm nhân viên ngân hàng không có nhiều thời gian chăm con, anh không yêu cầu chị Q ph i cấp dưỡng nuôi con.
- Đại diện viện ki m sát nhân dân thị xã Kinh Môn tham gia phiên tòa phát bi u ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình gi i quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS năm 2015.
Về nội dung: Áp dụng kho n 1 Điều 51, kho n 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, kho n 4 Điều 147 ộ luật t tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị ùi Thị Q; xử cho chị Q được ly hôn với anh Nguyễn Văn G. Về con chung: Giao cháu cháu Nguyễn Khánh Minh V, sinh ngày 03/9/2018 cho anh G, giao cháu Nguyễn Khánh Minh C1, sinh ngày 30/11/2021 cho chị Q chăm sóc nuôi dưỡng, k từ tháng 4/2025 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Q, anh G tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không ph i gi i quyết. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được c n trở. Về án phí: Chị ùi Thị Q ph i nộp tiền án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH
T
N
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về Tố tụng: ị đơn – anh G có nơi cư trú tại phường A, thị xã K nên yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của nguyên đơn thuộc thẩm quyền gi i quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn theo quy định tại kho n 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 của ộ luật t tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh G có đủ điều kiện, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp.
3 Căn cứ lời khai của nguyên đơn, bị đơn, biên b n xác minh và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở đ xác định: Quá trình cùng chung s ng, chị Q và anh G đã x y ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ với nhau. Quá trình gi i quyết vụ án, b n thân anh G đã tự mình và nhờ người tác động đ chị Q về đoàn tụ nhưng chị Q không đồng ý, Tòa án đã tiến hành hòa gi i đ vợ chồng anh chị đoàn thụ nhưng không thành. Chị Q xác định tình c m vợ chồng không còn, kiên quyết đề nghị Tòa án gi i quyết cho chị ly hôn anh G. Tại phiên tòa, anh G xác định chỉ đồng ý ly hôn khi chị Q1 đ anh nuôi c 2 con. Thực tế 2 năm nay vợ chồng mỗi người s ng một nơi, không cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Điều đó th hiện anh chị đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Điều 19 Luật HNGĐ, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng kéo dài. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Q, xử cho chị Q ly hôn anh G là phù hợp quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Chị Q, anh G có 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh Minh V, sinh ngày 03/9/2018 (giới tính: Nữ), hiện đang ở cùng anh G; cháu Nguyễn Khánh Minh C1, sinh ngày 30/11/2021 (giới tính: Nữ), hiện đang ở cùng chị Q. Chị Q, anh G đều có công việc thu nhập ổn định, đều mong mu n và đủ điều kiện nuôi con (Tại phiên tòa anh mong mu n nuôi c 2 con và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con). Tuy nhiên, đ đ m b o sự ổn định và phát tri n t t nhất của các cháu, cần tiếp tục giao cháu C1 cho chị Q, giao cháu V cho anh G tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục k từ tháng 4/2025 đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Q, anh G không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con là phù hợp điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình chuẩn bị xét xử, chị Q, anh G đều không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn - chị Q ph i chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định tại kho n 4 Điều 147 của ộ luật t tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, qu n lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Q, anh G có quyền kháng cáo b n án theo quy định tại Điều 271; kho n 1 Điều 273 của ộ Luật t tụng dân sự
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28; Điều 35; Điều 39; kho n 4 Điều 147; Điều 271; kho n 1 Điều 273 của ộ Luật t tụng dân sự; Luật phí và lệ phí s 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu nộp, qu n lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị ùi Thị Q.
1.1. Xử cho chị ùi Thị Q ly hôn anh Nguyễn Văn G.
1.2. Giao cháu Nguyễn Khánh Minh C1, sinh ngày 30/11/2021 (giới tính: Nữ), hiện đang ở cùng chị Q cho chị Q, giao cháu Nguyễn Khánh Minh V, sinh ngày 03/9/2018 (giới tính: Nữ), hiện đang ở cùng anh G cho anh G tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục k từ tháng 4/2025 đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Q, anh G không yêu cầu bên còn lại (anh G, chị Q) cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được c n trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. 2. Về án phí: Chị ùi Thị Q ph i chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, trừ vào s tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án thị xã Kinh Môn, tỉnh H i Dương theo biên lai s 0007134 ngày 18/12/2024, chị Q đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Q, anh G có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Nguyên đơn, bị đơn; - VKSND thị xã Kinh Môn; - UBND phường An Lưu, thị xã Kinh Môn, tỉnh H i Dương (s GCNKH 09 năm 2018); - Chi cục THADS thị xã Kinh Môn; - Lưu hồ sơ, VP. | T M H I Đ N X T X TH M Th m phán - h t a phiên tòa Đào Văn Phúc |