vanban.org

Bản án 26/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử xác định cháu bé đặt tên là Lương Trung H, sinh ngày 12/04/2016 tại Trạm y tế phường Thanh Tuyền (nay là phường Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình) theo Giấy khai sinh số 129; ngày đăng ký 05/09/2016 tại UBND xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh …

2/ Án phí: Chị Lương Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị N và anh Đ có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh V vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử xác định cháu bé đặt tên là Lương Trung H, sinh ngày 12/04/2016 tại Trạm y tế phường Thanh Tuyền (nay là phường Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình) theo Giấy khai sinh số 129; ngày đăng ký 05/09/2016 tại UBND xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh …
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 9 - 2025
V/v: “Xác Đ cha cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuyên. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Luân và bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2025 về việc: “Kiện xác định cha cho con” theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025 và Quyết Đ Hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lương Thị N, sinh ngày 30/4/1980; địa chỉ: Tổ dân phố LT, phường TS, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh ngày 02/06/1968; địa chỉ: Tổ 6, phường HN, tỉnh Ninh Bình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Xuân V, sinh ngày 20/05/1972; địa chỉ: Tổ dân phố LT, phường TS, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa có mặt chị N, anh Đ; vắng mặt anh V không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, lời khai của đương sự, các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lương Thị N trình bày:

Trong thời gian chị và anh Nguyễn Xuân V chờ Tòa án giải quyết về việc ly hôn thì chị và anh Trần Văn Đ có phát sinh quan hệ tình cảm. Ngày 12/4/2016 chị đã sinh cháu đặt tên là Lương Trung H (con trai) tại Trạm y tế phường Thanh Tuyền (nay là phường Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình).

Ngày 20/11/2015 Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Xuân V.

Chị khẳng định cháu bé đặt tên là Lương Trung H sinh ngày 12/4/2016 là con trai của chị và anh Trần Văn Đ. Kết quả xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH Công nghệ di truyền NOVAGEN ngày 23/4/2025 cũng kết luận giữa anh Trần Văn Đ và cháu Lương Trung H có quan hệ huyết thống cha - con.

Vì vậy chị đề nghị Tòa án xác định cháu bé đặt tên Lương Trung H, sinh ngày 12/04/2016 theo Giấy khai sinh số 129; ngày đăng ký 05/09/2016 tại UBND xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) là con đẻ của anh Trần Văn Đ đồng thời anh Trần Văn Đ là cha đẻ của cháu bé đặt tên là Lương Trung H.

Đề nghị Tòa án công nhận cháu bé dự định đặt tên là Lương Trung H, sinh ngày 12/04/2016 giới tính Nam theo Giấy khai sinh số 129; ngày đăng ký 05/09/2016 tại UBND xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) là con chung của chị Lương Thị N và anh Trần Văn Đ.

* Bị đơn anh Trần Văn Đ xác định lời khai của chị Lương Thị N là hoàn toàn đúng sự thật, anh Đ khẳng định cháu bé đặt tên là Lương Trung H, sinh ngày 12/04/2016 tại Trạm y tế phường Thanh Tuyền (nay là phường Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình) theo Giấy khai sinh số 129; ngày đăng ký 05/09/2016 tại UBND xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) là con chung của chị Lương Thị N và anh Trần Văn Đ. Cháu H không có bất cứ quan hệ gì với anh Nguyễn Xuân V. Mặt khác căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH Công nghệ di truyền NOVAGEN ngày 23/4/2025 cũng kết luận giữa anh Trần Văn Đ và cháu Lương Trung H có quan hệ huyết thống cha - con.

Vì vậy anh Đ đề nghị Tòa án xác định cháu bé đặt tên là Lương Trung H, sinh ngày 12/04/2016 tại Trạm y tế phường Thanh Tuyền (nay là phường Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình) theo Giấy khai sinh số 129; ngày đăng ký 05/09/2016 tại UBND xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) là con đẻ của anh Trần Văn Đ, anh Trần Văn Đ là cha đẻ của cháu Lương Trung H đồng thời cháu Lương Trung H là con chung của anh và chị Lương Thị N.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Xuân V có quan điểm: anh và chị Lương Thị N đã ly hôn giữa anh và chị N không còn bất kỳ quan hệ gì. Việc chị N có con chung với anh Đ không liên quan gì đến anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà hôm nay:

Chị Lương Thị N và anh Trần Văn Đ vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên, không thay đổi bổ sung gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng, ý kiến về việc giải quyết vụ án.

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công giải quyết đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn như thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục, thời gian, tiến hành xác minh thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết Đ:

Áp dụng các Điều 28; 35; 39; 68; 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 88; 89; 91; 101; 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị N: Xác định cháu bé đặt tên là Lương Trung H, sinh ngày 12/04/2016 tại Trạm y tế phường Thanh Tuyền (nay là phường Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình) theo Giấy khai sinh số 129; ngày đăng ký 05/09/2016 tại UBND xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) là con đẻ của anh Trần Văn Đ, anh Trần Văn Đ là cha đẻ của cháu Lương Trung H đồng thời cháu Lương Trung H là con chung của anh Trần Văn Đ và chị Lương Thị N.

2/ Về án phí sơ thẩm: Chị Lương Thị N được miễn án phí.

NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn anh Trần Văn Đ có nơi cư trú tại tổ 6, phường Hà Nam, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án “Kiện xác định cha cho con” giữa chị Lương Thị N và anh Trần Văn Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

[2] Về yêu cầu xác định cha cho con của chị Lương Thị N, Hội đồng xét xử thấy: Chị Lương Thị N và anh Nguyễn Xuân V có quan hệ hôn nhân hợp pháp và đã chấm dứt quan hệ hôn nhân theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 51/2015/QĐCNTTLH ngày 20 tháng 11 năm 2015 của Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Ngày 12/4/2016 chị Lương Thị N đã sinh con và đặt tên là Lương Trung H. Thời điểm chị N có thai cháu H, chị N và anh V đã sống ly thân, anh Trần Văn Đ và chị Lương Thị N có quan hệ tình cảm khi chị N đang ly thân với anh V. Quan hệ của chị N và anh Đ đã được anh Đ và chị N thừa nhận. Mặt khác căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH Công nghệ di truyền NOVAGEN ngày 23/4/2025 cũng kết luận giữa anh Trần Văn Đ và cháu Lương Trung H có quan hệ huyết thống cha - con. Do vậy, chị Lương Thị N khởi kiện yêu cầu xác định anh Trần Văn Đ là cha đẻ của cháu bé đặt tên là Lương Trung H, sinh ngày 12/04/2016 tại Trạm y tế phường Thanh Tuyền (nay là phường Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình) theo Giấy khai sinh số 129; ngày đăng ký 05/09/2016 tại UBND xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[3] Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì chị Lương Thị N được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được thực hiện quyền kháng cáo theo quy Đ của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT Đ

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ Điều 88; Điều 89; Điều 91; Điều 101; Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Xử xác định cháu bé đặt tên là Lương Trung H, sinh ngày 12/04/2016 tại Trạm y tế phường Thanh Tuyền (nay là phường Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình) theo Giấy khai sinh số 129; ngày đăng ký 05/09/2016 tại UBND xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) là con đẻ của anh Trần Văn Đ. Anh Trần Văn Đ là cha đẻ của cháu bé đặt tên là Lương Trung H sinh ngày 12/04/2016 và cháu Lương Trung H là con chung của chị Lương Thị N và anh Trần Văn Đ.

2/ Án phí: Chị Lương Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị N và anh Đ có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh V vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ