vanban.org

Bản án 26/2025/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Đ đối với ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.

Buộc ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Phạm Văn Đ số tiền 434.435.098 (bốn trăm ba mươi bốn triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn không trăm chín mươi tám) đồng, trong đó có 367.700.000 đồng hụi gốc và 66.735.098 đồng tiền lãi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Đ đối với ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/DS-ST
Ngày: 16/7/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi,
yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của
người chết để lại”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Văn Lộc;

2. Ông Phan Văn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Quỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 588/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2025, quyết định hoãn phiên toà số 82/2025/QĐST-DS ngày 28/5/2025, thông báo mở lại phiên toà số 03/TB-TA ngày 07 thán 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm: 1963, địa chỉ: khu phố C, xã C, tỉnh Tây Ninh (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn:

1. Ông Lê Minh Đ1, sinh năm: 1974;

2. Anh Lê Gia B, sinh năm 1997;

3. Chị Lê Gia H, sinh năm 2005, cùng địa chỉ: khu phố C, xã C, tỉnh Tây Ninh (ông Đ1, anh B, chị H vắng mặt).

- Người đại diện theo uỷ quyền của ông Đ1, anh B, chị H1: anh Lê Phước Ý, sinh năm 1995, địa chỉ: khu phố D, phường L, thị xã H (nay là phường L, tỉnh Tây Ninh), theo văn bản uỷ quyền đề ngày 11/11/2024, có mặt.

4. Ông Trần Văn Đ2, sinh năm 1940;

5. Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1946, cùng địa chỉ: khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh (ông Đ2, bà T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – ông Phạm Văn Đ trình bày:

Ông Phạm Văn Đ, bà Trần Thị Kim C, ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T không có quan hệ bà con ruột thịt. Ông và bà C, ông Đ1, anh B có quan hệ quen biết do ở gần nhà nhau. Ông có tham gia góp hụi do bà Trần Thị Kim C làm chủ hụi trước năm 2022, ông đã hốt hụi và đóng hụi chết đầy đủ, các dây hụi đều đã mãn. Đến năm 2022, ông có tham gia góp thêm 03 dây hụi do bà Trần Thị Kim C làm chủ hụi, cụ thể:

Dây hụi 5.000.000 đồng khui ngày 20/6/2022 dương lịch, gồm 25 phần, hụi mãn vào ngày 20/6/2024 dương lịch, mỗi tháng khui một lần, ông tham gia 02 phần hụi tên trong danh sách hụi là "Chú Đông", ông góp được (14 kỳ hụi x 4.000.000) + (01 kỳ x 3.900.000 đồng) x 2 phần với số tiền vốn góp của dây hụi này là 119.800.000 đồng. Đến tháng 9/2023 dương lịch thì bà C chết nên ông không tiếp tục đóng hụi.

Dây hụi 5000.000 đồng khui ngày 01/11/2022 (dương lịch) gồm 25 phần hụi mãn ngày 01/11/2025 dương lịch, mỗi tháng khui 01 lần, ông tham gia 05 phần. Ông đã góp được 11 (tháng) kỳ hụi x 4.000.000 đồng x 5 phần, với số tiền vốn góp là 176.000.000 đồng, 17 ngày x 150.000 đồng x 4 phần được 220.000.000 đồng. Đến tháng 9/2023 (dương lịch) thì bà C chết nên ông ngưng không tiếp tục đóng hụi dây hụi này.

Dây hụi 5.000.000 đồng khui ngày 25/02/2023 dương lịch, gồm 25 phần hụi mãn ngày 25/02/2025 dương lịch. Ông tham gia 01 phần với tên trong danh sách hui là “Bà út- Chú Đ”. Ông góp được 07 tháng (kỳ) hụi với số tiền vốn góp là 27.900.000 đồng. Đến tháng 9/2023 (dương lịch) thì bà C chết nên ông không tiếp tục đóng. Tổng cộng tiền hụi gốc, lãi hụi ông được hưởng trong 3 dây hụi là 460.000.000 đồng trong đó hụi gốc góp được là 367.700.000 đồng, tiền lãi hụi được hưởng là 92.300.000 đồng.

Ngoài ra ông không tham gia dây hụi nào khác do bà C làm chủ hụi. Ông cũng không thiếu tiền hụi chết của bà C.

Ông đóng hụi sống cho bà C bằng hình thức đóng tiền mặt trực tiếp cho bà C, anh B, ông Đ1, chị H chủ yếu là đóng cho anh B.

Ông khởi kiện buộc ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông số tiền hụi gốc ông đã đóng trong 3 dây hụi là 367.700.000 đồng. Ông yêu cầu tính lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật tính từ ngày bà C chết cho đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm. Ngoài ra bà C, ông Đ1, anh B, chị H, ông Đ2, bà T không vay mượn của ông khoản tiền nào khác.

Về án phí, chi phí tố tụng ông đề nghị Toà án xem xét theo quy định pháp luật.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H - anh Lê Phước Ý trình bày:

Sau khi được tiếp cận chứng cứ bản chính do ông Phạm Văn Đ cung cấp thì tất cả chữ ký, chữ viết trong sổ sách theo dõi hụi và danh sách hụi không có bất cứ chữ viết, chữ ký nào của bà C nên ông Đ1, anh B, chị H không thừa nhận. Ông Đ1, anh B, chị H khẳng định ông Đ không có tham gia góp hụi do bà C làm chủ hụi.

Ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Đ về việc yêu cầu ông Đ1, anh B, chị H, ông Đ2, bà T cùng liên đới trả số tiền góp hụi là 460.000.000 đồng (bốn trăm sáu mươi triệu đồng) và lãi suất.

Bị đơn ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H không có yêu cầu phản tố trong vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Văn Đ2 và bà Đỗ Thị T vắng mặt nên không có lời khai lời trình bày.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vắng mặt nên không có lời khai, lời trình bày.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ Điều 357, 471, 615, 651 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, Điều 30 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Đ đối với ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.

Buộc ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T cùng có có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Phạm Văn Đ số tiền hụi gốc 367.700.000 đồng và lãi suất chậm trả là 0,83%/số tiền hụi gốc tính từ ngày 19/9/2023 cho đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm.

Ông Lê Minh Đ1 có nghĩa vụ liên đới trên toàn bộ tài sản mà ông Đ1 có; anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T có nghĩa vụ liên đới trong phạm vi di sản thừa kế của bà Trần Thị Kim C, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” được quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn có nơi cư trú hiện nay tại khu phố C, xã C và phường T, tỉnh Tây Ninh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 10

- tỉnh Tây Ninh.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ đã có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H vắng mặt có người đại diện theo uỷ quyền là anh Lê Phước Ý có mặt. Ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên Toà lần thứ 2. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ, ông Đ1, anh B, chị H, ông Đ2, bà T.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Đ thấy rằng: ông Đ khởi kiện yêu cầu ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông số tiền hụi gốc 367.700.000 đồng và lãi suất chậm trả trên số tiền hụi gốc ông đã góp tính từ ngày 19/9/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

Xét về chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và số tiền hụi gốc theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Xét danh sách hụi do ông Đ cung cấp, sổ sách theo dõi hụi của ông Đ thấy rằng đối với danh sách hụi 5.000.000 đồng khui ngày 20/6/2022 và dây hụi 5.000.000 đồng khui ngày 25/02/2023 có chữ ký, chữ viết ghi họ tên của chủ hụi Trần Thị Kim C, danh sách hụi 5.000.000 đồng khui ngày 01/11/2022, không có chữ ký của bà C. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành lấy lời khai của một số hụi viên có tham gia hụi chung với ông Đ như chị Vũ Thị Thúy D tên trong danh sách hụi là “Diệu tóc”, chị Ngô Thị Hồng H2 tên trong danh sách hụi là “Hoa thắm”, chị Ngô Thị Hồng T1 tên trong danh sách hụi là “Thắm Hoa”, chị Đặng Thị Thùy D1 “tên trong danh sách hụi là “Dung cá”, chị Vũ Thị Hồng N tên trong danh sách hụi là “Cồm con dì Thiên”, bà Trần Thị Tuyết N1 tên trong danh sách hụi “Cô T2”, chị Võ Thị Mỹ D2 tên trong danh sách hụi là “Duyên rau”, chị Vũ Thị Thùy T3 “tên trong danh sách hụi là “Trang con dì Thiên”, chị Lê Thị Thanh T4 trong danh sách hụi là “Bà út”, chị Phan Thị Lan C1 tên trong danh sách hụi là “3 chi” các hụi viên đều khẳng định ông Đ có tham gia góp hụi các dây hụi trên và chưa hốt phần hụi nào.

Như vậy có căn cứ chấp nhận lời trình bày của ông Đ về việc ông Đ có tham gia các dây hụi nêu trên.

Về số tiền vốn góp của ông Đ trình bày phù hợp với lời trình bày của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ do ông Đ giao nộp là sổ sách theo dõi hụi của ông Đ. Có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ về số tiền hụi vốn ông Đ đã góp được trong 3 dây hụi là 367.700.000 đồng.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu ông Đ1, anh B, chị H, ông T, bà Đ2 cùng có nghĩa vụ liên đới trả tiền thấy rằng: bà C đã tổ chức nhiều dây hụi trong nhiều năm liên tục. Ông Đ1 và bà C là vợ chồng, bà C tổ chức hụi và có thu tiền hoa hồng, tiền hoa hồng thu được bà C phục vụ chung cho cuộc sống gia đình. Ông Đ1 biết việc bà C tổ chức hụi nhưng không ngăn cản, một số hụi viên khai ông Đ1, anh B là những người có nhận tiền hụi vốn do các hụi viên góp. Như vậy ông Đ1 và bà C phải có nghĩa vụ liên đới vợ chồng trả tiền hụi lại cho các hụi viên trên toàn bộ tài sản mà ông Đ1 và bà C có. Đối với yêu cầu buộc anh B, chị H, ông Đ2, bà T cùng có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ông Đ thấy rằng: anh B, chị H, ông Đ2, bà T là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà C nên chỉ phải chịu nghĩa vụ liên đới trả tiền hụi cho ông Đ trong phạm vi di sản thừa kế của bà C.

Về yêu cầu tính lãi chậm trả của ông Đ thấy rằng: ngày 19/9/2023 bà C chết, các đồng thừa kế của bà C không tiếp tục tổ chức hụi, các hụi viên không tiếp tục đóng hụi do vậy các dây hụi không hoạt động kể từ ngày bà C chết. Từ sau ngày bà C chết các hụi viên đã đến đòi nhiều lần nhưng các đồng thừa kế khác không trả tiền cho các hụi viên. Các hụi viên yêu cầu trả tiền hụi gốc và lãi suất chậm trả kể từ ngày bà C chết là có căn cứ chấp nhận phù hợp với quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự, Điều 22 nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Tính từ ngày 19/9/2023 đến nay là 21 tháng 26 ngày, ông Đ1 và các đồng thừa kế khác của bà C phải trả cho ông Đ số tiền lãi là:

(367.700.000 đồng x 0,83%) x 21 tháng 26 ngày = 66.735.098 đồng.

Tổng cộng gốc lãi ông Đ1 và các đồng thừa kế khác của bà C phải trả cho ông Đ là 434.435.098 (trong đó có 367.700.000 đồng hụi gốc và 66.735.098 đồng tiền lãi chậm trả).

Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 10 - tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, xét thấy đây là đề nghị có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ.

Về án phí: theo quy định tại Điều 12, Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Ông Đ, ông Đ2, bà T thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí

Ông Đ1, anh B, chị H phải chịu án phí trên yêu cầu khởi kiện của ông Đ được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 357, 471, 615, 651 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, Điều 30 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Đ đối với ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.

Buộc ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Phạm Văn Đ số tiền 434.435.098 (bốn trăm ba mươi bốn triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn không trăm chín mươi tám) đồng, trong đó có 367.700.000 đồng hụi gốc và 66.735.098 đồng tiền lãi chậm trả.

Ông Lê Minh Đ1 có nghĩa vụ liên đới trên toàn bộ tài sản mà ông Đ1 có; anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T có nghĩa vụ liên đới trong phạm vi di sản thừa kế của bà Trần Thị Kim C, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự:

Ông Lê Minh Đ1, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H cùng có nghĩa vụ liên đới phải chịu 21.377.404 (hai mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm linh bốn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Lê Minh Đ1 có nghĩa vụ liên đới trên toàn bộ tài sản mà ông Đ1 có; anh Lê Gia B, chị Lê Gia H, ông Trần Văn Đ2, bà Đỗ Thị T có nghĩa vụ liên đới trong phạm vi di sản thừa kế của bà Trần Thị Kim C, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Ông Phạm Văn Đ, bà Đỗ Thị T, ông Trần Văn Đ2 thuộc trường hợp được miễn nộp án phí.

3. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ