vanban.org

Bản án 26/2025/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

147, Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, bieu, phường; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2…

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T đối với ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H về việc trả số tiền nợ hụi 216.000.000 đồng (hai trăm mười sáu triệu đồng). Buộc ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H cùng có trách nhiệm thanh toán cho ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T số tiền nợ hụi 21… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Phạm Văn An- Trần Văn Thanh"
  • Tòa quyết gì? 147, Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, bieu, phường; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LỢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/DS-ST
Ngày: 16 – 4 - 2025
V/v tranh chấp nợ hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Lan Chi Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Phạm Văn Sáu

- Bà Trần Thị Phương Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Trường, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Châu Ngọc Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 323/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “nợ hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

- Đồng nguyên đơn: Ông Phạm Văn A, sinh năm 1977 và bà Trần Thị T, sinh năm 1977. Cùng địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

- Đồng bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1977 và bà Võ Kim H, sinh năm 1977. Cùng địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 8 năm 2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 28 tháng 10 năm 2024 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, đồng nguyên đơn bà Trần Thị T, ông Phạm Văn A trình bày: Vợ chồng ông A, bà T có làm chủ hụi, vợ chồng ông T1, bà H có tham gia các dây hụi như sau:

Ơ1. Dây hụi thứ nhất là hụi 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) một tháng khui một kỳ vào ngày 20/11/2022 âm lịch có 22 chưng, ông T1, bà H tham gia 02 chưng.

Vợ chồng ông T1, bà Hoàng H1 hụi kỳ thứ 02 ngày 20/12/2022 âm lịch, để thăm 650.000 đồng, số tiền hốt được là 26.650.000 đồng và hốt kỳ thứ 05 ngày 20/02/2023 âm lịch, để thăm 650.000 đồng, số tiền hốt được là 27.950.000 đồng. Sau khi hốt hụi, ông T1 và bà H có đóng hụi chết đến kỳ 12 ông T1 và bà Hoàng N đóng hụi chết đến khi mãn hụi, dây hụi này đã mãn ngày 20/7/2024 âm lịch. Ông A và bà T đóng hụi chết thay cho ông T1, bà H 11 kỳ (từ kỳ 12 đến kỳ 22) tương đương số tiền là 11 kỳ x 2 chưng, x 2.000.000 đồng = 44.000.000 đồng.

2. Dây hụi thứ hai là hụi 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), hai tháng khui một kỳ vào ngày 25/7/2022 âm lịch có 16 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 01 chưng.

Vợ chồng ông T1 hốt kỳ thứ 06 ngày 25/4/2023 âm lịch để thâm 3.000.000 đồng, số tiền hốt được là 42.500.000 đồng, ông T1 và bà Hoàng N đóng hụi từ kỳ thứ 8 đến kỳ 14 là 07 kỳ. Tính đến thời điểm ông A, bà T nộp đơn khởi kiện, dây hụi này còn 02 kỳ nữa mãn hụi. Số tiền hụi ông A, bà T đóng hụi thay cho ông T1, bà H là 07 kỳ x 5.000.000 đồng = 35.000.000 đồng.

3. Dây hụi thứ ba là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ba tháng khui một kỳ vào ngày 20/7/2020 âm lịch có 16 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 02 chưng.

Vợ chồng ông T1 hốt kỳ đầu để thăm 2.000.000 đồng, số tiền hốt được là 39.500.000 đồng và hốt kỳ thứ 06 vào ngày 20/10/2021 âm lịch để thăm 2.050.000 đồng, số tiền hốt được là 47.000.000 đồng; ông T1 và bà Hoàng N đóng từ kỳ 14 ngày 20/9/2023 âm lịch. Hiện dây hụi này đã mãn ngày 20/3/2024 âm lịch. Ông A, bà T đã đóng hụi thay cho ông T1, bà H số tiền là 03 kỳ x 5.000.000 đồng x 02 chưng = 30.000.000 đồng.

4. Dây hụi thứ tư là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ba tháng khui một kỳ vào ngày 15/5/2020 âm lịch có 18 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 01 chưng. Vợ chồng ông T1, bà Hoàng H1 kỳ thứ 04 vào ngày 15/02/2021 âm lịch, để thăm 2.000.000 đồng, số tiền hốt được là 54.500.000 đồng. Sau khi hốt hụi, đến kỳ thứ 15 ông T1 và bà Hoàng N đóng hụi chết. Hiện dây hụi này đã mãn vào ngày 15/7/2024 âm lịch. Ông A, bà T đã đóng hụi thay cho ông T1, bà H số tiền 04 kỳ x 5.000.000 đồng = 20.000.000 đồng.

5. Dây hụi thứ năm là: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ba tháng khui một kỳ vào ngày 29/01/2022 âm lịch, có 17 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 02 chưng.

Vợ chồng ông T1 hốt kỳ thứ 02 ngày 29/4/2022 âm lịch, để thăm 2.000.000 đồng, số tiền hốt được là 44.500.000 đồng và hốt kỳ thứ 04 ngày 29/10/2022 âm lịch để thăm 2.250.000 đồng, số tiền hốt được là 43.250.000 đồng. Sau khi hốt hụi, ông T1, bà H có đóng hụi chết đến kỳ thứ 8 ngày 29/9/2023 ông T1, bà H ngưng đóng hụi chết. Ông A, bà T đứng ra đóng hụi chết cho ông T1, bà H 04 kỳ (từ kỳ 8 đến kỳ 11) x 5.000.000 đồng x 02 chưng = 40.000.000 đồng. Tính đến thời điểm khởi kiện, còn 06 kỳ nữa hụi mới mãn, ngày mãn hụi là ngày 29/12/2025 âm lịch.

6. Dây hụi thứ sáu là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), bốn tháng khui một kỳ vào ngày 06/12/2021 âm lịch có 15 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 01 chưng. Vợ chồng ông T1 hốt kỳ thứ 03 ngày 06/8/2021 âm lịch, để thăm 4.200.000 đồng, số tiền hốt được là 85.600.000 đồng, ngưng đóng từ kỳ thứ 10, 11, 12 là 03 kỳ. Số tiền hụi ông A, bà T đóng hụi thay cho ông T1, bà H là 03 kỳ x 10.000.000 đồng = 30.000.000 đồng. Tính đến thời điểm nộp đơn khởi kiện, còn 03 kỳ nữa dây hụi này mới mãn, mãn hụi ngày 06/7/2025 âm lịch.

7. Dây hụi thứ bảy là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), bốn tháng khui một kỳ vào ngày 10/12/2022 âm lịch có 14 chưng. Trong đó vợ chồng ông T1 tham gia 01 chưng. Vợ chồng ông T1 hốt kỳ thứ 03 ngày 10/7/2023 âm lịch, để thăm 6.500.000 đồng, số tiền hốt được là 54.500.000 đồng, ngưng đóng từ kỳ thứ 04, 05, 06. Số tiền ông A, bà T đóng hụi thay cho ông T1, bà H 04 kỳ hụi chết là 40.000.000 đồng. Tính đến thời điểm nộp đơn khởi kiện, dây hụi này còn 08 kỳ mới mãn, ngày mãn hụi là ngày 10/3/2027.

. Dây hụi thứ tám là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), bốn tháng khui một kỳ vào ngày 25/02/2022 (âm lịch) có 17 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 02 chưng.

Vợ chồng ông T1 hốt kỳ thứ 02 ngày 25/6/2022 âm lịch, để thăm 4.400.000 đồng, số tiền hốt được là 90.000.000 đồng và hốt kỳ thứ 05 ngày 25/5/2023 âm lịch để thăm 6.200.000 đồng, số tiền hốt được là 71.600.000 đồng, ngưng đóng hụi từ kỳ thứ 07, 08, 09. Ông A, bà T đóng hụi chết thay cho ông T1, bà H số tiền là 03 kỳ hụi chết x 02 chưng = 60.000.000 đồng. Tính đến thời điểm nộp đơn khởi kiện, dây hụi này còn 08 kỳ nữa mới mãn, ngày mãn hụi là ngày 10/3/2027 âm lịch.

Đơn khởi kiện, ông A, bà T yêu cầu ông T1, bà H thanh toán số tiền hụi mà ông A, bà T đóng hụi thay cho ông T1, bà H là 246.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Đồng bị đơn ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Do nhiều lần Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H đến Tòa làm việc nhưng ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H không đến, Tòa án đến nhà lấy lời khai thì ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H không có nhà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu trình bày việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Về tố tụng: Đồng nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đồng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T về yêu cầu Toà án buộc ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H trả tiền nợ hụi là 44.000.000 đồng (dây hụi thứ nhất) + 25.000.000 đồng (dây hụi thứ 02) + 30.000.000 đồng (dây hụi thứ 03) + 20.000.000 đồng (dây hụi thứ 04) + 40.000.000 đồng (dây hụi thứ 05) + 30.000.000 đồng (dây hụi thứ 06) + 30.000.000 đồng (dây hụi thứ 07) + 40.000.000 đồng (dây hụi thứ 08) = 259.000.000 đồng – 43.000.000 đồng (Do ông T1 bà H trả các lần đóng hụi) = 216.000.000 đồng.

Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T do ông A bà T rút 01 phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu Toà án buộc ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H trả tiền nợ hụi 40.000.000 đồng cho hụi viên gồm ông Lê Thanh T2 là 5.000.000 đồng, ông Trịnh Văn Đ là 5.000.000 đồng (dây hụi thứ 2 mở ngày 25/07/2022 âl), ông Phạm Văn H2 là 20.000.000 đồng (dây hụi thứ 8 ngày 25/02/2022 âl) và rút số tiền chênh lệch 10.000.000 đồng tại dây hụi thứ 7 (ngày 10/12/2022 âl) do tính nhầm trong đơn khởi kiện.

Về án phí dân sự có giá ngạch ông A, bà T không phải chịu; ông T1, bà H phải chịu toàn bộ án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Ngày 05 tháng 09 năm 2024, bà Trần Thị T và ông Phạm Văn A nộp đơn khởi kiện đến Tòa án tranh chấp hụi với đồng bị đơn ông Trần Văn T1 và bà Võ Kim H. Khi khởi kiện ông Trần Văn T1 và bà Võ Kim H cư trú tại ấp C, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, đồng bị đơn ông Trần Văn T1 và bà Võ Kim H đã được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T1, bà H theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T và ông Phạm Văn A về việc yêu cầu ông Trần Văn T1 và bà Võ Kim H thanh toán số tiền hụi 246.000.000 đồng

. Đối với dây hụi thứ nhất là hụi 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) một tháng khui một kỳ vào ngày 20/11/2022, có 22 chưng, ông T1, bà H tham gia 02 chưng. Sau khi hốt hụi, ông T1 và bà H có đóng hụi chết đến kỳ 12 ông T1 và bà Hoàng N đóng hụi chết đến khi mãn hụi, dây hụi này đã mãn ngày 20/7/2024 âm lịch. Ông A và bà T đóng hụi chết thay cho ông T1, bà H 11 kỳ (từ kỳ 12 đến kỳ 22) tương đương số tiền là 11 kỳ x 2 chưng, x 2.000.000 đồng = 44.000.000 đồng.

Căn cứ biên bản xác minh ông Phạm Văn V (Bút lục 77) là hụi viên tên “Út Bé”, bà Tăng Thị T3 (Bút lục 95) là hụi viên tên “Tư Minh”, ông Trần Thanh H3 (Bút lục 109) là hụi viên tên “5 H3”, bà Dương Ngọc T4 (Bút lục 98) là hụi viên tên “Lên” xác định ông T1 và bà H có tham gia chơi 02 chưng hụi, hốt hụi kỳ 2 và kỳ 5. Khi ông V, ông H3, bà T3, bà T4 hốt hụi thì ông A đã giao hụi đầy đủ và hiện dây hụi này đã mãn. Xét thấy, sau khi hốt hụi, việc ông T1 và bà H không tiếp tục đóng hụi chết theo thoả thuận cho ông A, bà T là vi phạm Điều 16 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, biêu, phường và qua nội dung xác minh các hụi viên như trên, hiện dây hụi đã mãn nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông A, bà T về yêu cầu ông T1, bà H trả tiền nợ hụi là 44.000.000 đồng.

. Đối với dây hụi thứ hai là hụi 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), hai tháng khui một kỳ vào ngày 25/7/2022 âm lịch, có 16 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 01 chưng và đã hốt kỳ thứ 06 ngày 25/4/2023 âm lịch, ông T1 và bà Hoàng N đóng hụi từ kỳ hụi thứ 8 đến kỳ 14 là 07 kỳ. Tính đến thời điểm ông A, bà T nộp đơn khởi kiện, dây hụi này còn 02 kỳ nữa mới mãn. Số tiền hụi ông A, bà T đóng hụi thay cho ông T1, bà H là 07 kỳ x 5.000.000 đồng = 35.000.000 đồng.

Căn cứ biên bản xác minh và biên bản lấy lời khai của ông Đoàn Văn C là hụi viên tên “Dì 3 Chơn” là mẹ ông là bà Dương Thị B; bà Nguyễn Thị C1 là hụi viên tên “Bích Tiền” tên Phạm Thị T5; bà Phạm Thị B1 là hụi viên tên “Hai Bé” tên Phạm Văn B2; bà Trần Thị H4 là hụi viên tên “7 Hằng” đều thống nhất trình bày khi hốt hụi, chủ hụi ông A bà T có giao tiền hụi đầy đủ.

Tại phiên toà, Thẩm phán công bố Biên bản hoà giải ngày 18/11/2024 xác định bà Nguyễn Thị Á được ông A, bà T giao hụi và ông A bà T xin rút 01 phần yêu cầu tiền nợ hụi đối với ông T1 và bà H đối với hụi viên ông Lê Thanh T2 là 5.000.000 đồng, ông Trịnh Văn Đ là 5.000.000 đồng.

Xét thấy, việc ông T1 bà H không tiếp tục đóng hụi chết theo thoả thuận cho ông A và bà T là vi phạm Điều 16 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, biêu, phường và ông A, bà T đã thực hiện nghĩa vụ đóng thay tiền hụi chết cho ông T1 bà H cho các hụi viên gồm bà Dương Thị B, bà Phạm Thị T5, bà Phạm Văn B2, bà Trần Thị H4, bà Nguyễn Thị Á nên có căn cứ chấp nhận 01 phần yêu cầu của ông A, bà T về yêu cầu ông T1, bà H trả tiền nợ hụi là 05 kỳ x 5.000.000 đồng = 25.000.000 đồng. Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện số tiền 10.000.000 đồng do ông A bà T xin rút 01 phần yêu cầu tiền nợ hụi đối với ông T1, bà H đối với hụi viên ông Lê Thanh T2 là 5.000.000 đồng, ông Trịnh Văn Đ là 5.000.000 đồng.

. Đối vối dây hụi thứ ba là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ba tháng khui một kỳ vào ngày 20/7/2020 âm lịch có 16 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 02 chưng đều đã hốt. Sau khi hốt hụi, ông T1 và bà Hoàng N đóng hụi chết từ kỳ 14 ngày 20/9/2023 âm lịch đến kỳ 16 (mãn hụi) là ngày 20/3/2024 âm lịch. Ông A, bà T đã đóng hụi thay cho ông T1, bà H số tiền là 03 kỳ x 5.000.000 đồng x 02 chưng = 30.000.000 đồng.

Căn cứ biên bản xác minh đối với bà Phạm Thị B1 (Bút lục 91) là hụi viên tên “Hai Bé” tức ông Phạm Văn B2; bà Nguyễn Thị C1 (Bút lục A) là hụi viên tên “Bích Tiền” tức Phạm Thị T5; ông Trần Thanh H3 (Bút lục 109) là hụi viên; bà Trần Thị Ánh H5 (Bút lục F) là hụi viên; bà Võ Kim P (Bút lục 104) là hụi viên tên “Lai Phượng” đều xác định ông T1, bà H có tham gia hụi, hốt kỳ đầu và kỳ thứ 6, ông A bà T đã giao hụi đầy đủ và hiện hụi đã mãn.

Xét thấy, việc ông T1 bà H không tiếp tục đóng hụi chết theo thoả thuận cho ông A bà T là vi phạm Điều 16 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, biêu, phường và qua nội dung xác minh các hụi viên như trên xác định khi hốt hụi, ông A, bà T giao hụi đầy đủ, đã mãn hụi nên có căn cứ chấp nhận 01 phần yêu cầu của ông A, bà T về yêu cầu ông T1, bà H trả tiền nợ hụi là 30.000.000 đồng.

. Đối với dây hụi thứ tư là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ba tháng khui một kỳ vào ngày 15/5/2020 (âm lịch) có 18 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 01 chưng và đã hốt kỳ 4. Sau khi hốt hụi, đến kỳ thứ 15 ông T1 và bà Hoàng N đóng hụi chết. Hiện dây hụi này đã mãn vào ngày 15/7/2024 âm lịch. Ông A, bà T đã đóng hụi thay cho ông T1, bà H số tiền 04 kỳ x 5.000.000 đồng = 20.000.000 đồng.

Căn cứ biên bản xác minh đối với ông Đoàn Thanh H6 (Bút lục 74) là hụi viên tên “5 Xuân”, bà Trần Thị Sáu E (Bút lục 101) là hụi viên tên “6 Em”, bà Phạm Thị N1 (Bút lục 86) là hụi viên tên “Nào”, bà Tăng Thị T3 (Bút lục 95) là hụi viên tên “Số Minh” xác định ông T1, bà H có tham gia chơi 01 chưng hụi, hốt hụi kỳ 4, ông A đã giao hụi đầy đủ khi các hụi viên hốt hụi, hiện dây hụi này đã mãn.

Xét thấy, việc ông T1 bà H không tiếp tục đóng hụi chết theo thoả thuận cho ông A, bà T là vi phạm Điều 16 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, biêu, phường và qua nội dung xác minh các hụi viên như trên, đã mãn hụi nên có căn cứ chấp nhận 01 phần yêu cầu của ông A, bà T về yêu cầu ông T1, bà H trả tiền nợ hụi là 20.000.000 đồng.

. Đối với dây hụi thứ năm là: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ba tháng khui một kỳ vào ngày 29/01/2022 âm lịch có 17 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 02 chưng, đã hốt kỳ thứ 02 ngày 29/4/2022 (âm lịch) và hốt kỳ thứ 04 ngày 29/10/2022 (âm lịch). Sau khi hốt hụi, ông T1, bà H có đóng hụi chết đến kỳ thứ 8 ngày 29/9/2023 ông T1, bà H ngưng đóng hụi chết. Ông A, bà T đứng ra đóng hụi chết cho ông T1, bà H 04 kỳ (từ kỳ 8 đến kỳ 11) x 5.000.000 đồng x 02 chưng = 40.000.000 đồng. Tính đến thời điểm khởi kiện, còn 06 kỳ nữa hụi mới mãn, ngày mãn hụi là ngày 29/12/2025 âm lịch.

Căn cứ lời khai bà Trịnh Thu H7 (Bút lục 129) là hụi viên trình bày bà và ông A chốt hụi đến kỳ thứ 9 và kể từ kỳ thứ 10 ông A chơi tiếp theo; bà Phạm Thị X (Bút lục 121) là hụi viên tên “Sở (S)” hốt hụi vào kỳ thứ 3 được giao hụi đầy đủ; bà Nguyễn Thị C1 (Bút lục A) là hụi viên tên “Tư Sử” trình bày chưa hốt hụi; bà Nguyễn Thị D là hụi viên; bà Nguyễn Thị H8 (Bút lục 118) là hụi viên tên “Thơ (Đ1)” đều thống nhất trình bày khi hốt hụi thì chủ hụi ông A bà T có giao tiền hụi đầy đủ, ông T1 bà H đã hốt hụi kỳ thứ 2 và kỳ thứ 4.

Tại phiên toà, Thẩm phán công bố Biên bản hoà giải ngày 18/11/2024 xác định bà Nguyễn Thị Ánh T6 bà Nguyễn Thị N2 (Phan Thị N3) chơi hụi và được ông A, bà T giao hụi trong vụ án này.

Xét thấy, việc ông T1, bà H không tiếp tục đóng hụi chết theo thoả thuận cho ông A, bà T là vi phạm Điều 16 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, biêu, phường và ông A, bà T đã thực hiện nghĩa vụ đóng thay tiền hụi chết cho ông T1 bà H cho các hụi viên gồm bà Nguyễn Thị H8, bà Trịnh Thu H7 (ông A tiếp tục chơi kỳ thứ 10), bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị N2 (Phan Thị N3) tức do bà Nguyễn Thị Ánh C2 thay nên có căn cứ chấp nhận 01 phần yêu cầu của ông A, bà T về yêu cầu ông T1, bà H trả tiền nợ hụi là 04 kỳ x 02 chưng x 5.000.000 đồng = 40.000.000 đồng.

. Đối với dây hụi thứ sau là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), bốn tháng khui một kỳ vào ngày 06/12/2020 âm lịch có 15 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 01 chưng. Vợ chồng ông T1 hốt kỳ thứ 03 ngày 06/8/2021 âm lịch, ngưng đóng từ kỳ thứ 10, 11, 12 là 03 kỳ. Số tiền hụi ông A, bà T đóng hụi thay cho ông H, bà T1 là 03 kỳ x 10.000.000 đồng = 30.000.000 đồng. Tính đến thời điểm nộp đơn khởi kiện, còn 03 kỳ nữa dây hụi này mới mãn, mãn hụi ngày 06/7/2025 âm lịch.

Căn cứ biên bản xác minh và biên bản lấy lời khai đối với bà Trần Lệ H9 (Bút lục 83) là hụi viên tên “7 Bình”; ông Trần Thanh H3 (Bút lục 109) là hụi viên; bà Nguyễn Thị H8 (Bút lục A) là hụi viên tên “Ca”; bà Phạm Thị B1 (Bút lục 91) là hụi viên tên “2 Bé” tức Phạm Văn B2, ông Phạm Văn A (chủ hụi) đều thống nhất trình bày khi hốt hụi thì chủ hụi ông A bà T có giao tiền hụi đầy đủ.

Xét thấy, việc ông T1 bà H không tiếp tục đóng hụi chết theo thoả thuận cho ông A bà T là vi phạm Điều 16 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, biêu, phường và ông A bà T đã thực hiện nghĩa vụ đóng thay tiền hụi chết cho ông T1 bà H cho 03 hụi viên do ông T1 bà H chưa đóng hụi chết gồm ông Trần Thanh H3, bà Phạm Văn B2 (Phạm Thị B1), ông Phạm Văn A nên có căn cứ chấp nhận 01 phần yêu cầu của ông A, bà T về yêu cầu Toà án buộc ông T1 bà H trả tiền nợ hụi là 03 x 10.000.000 đồng = 30.000.000 đồng.

. Đối với dây hụi thứ bảy là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), bốn tháng khui một kỳ vào ngày 10/12/2022 âm lịch có 14 chưng. Trong đó vợ chồng ông T1 tham gia 01 chưng. Vợ chồng ông T1 hốt kỳ thứ 03 ngày 10/7/2023 (âm lịch), ngưng đóng từ kỳ thứ 04, 05, 06. Số tiền ông A, bà T đóng hụi thay cho ông T1, bà H 04 kỳ hụi chết là 40.000.000 đồng. Tính đến thời điểm nộp đơn khởi kiện, dây hụi này còn 08 kỳ mới mãn, ngày mãn hụi là ngày 10/3/2027.

Căn cứ biên bản lấy lời khai của ông Phạm Văn V (Bút lục 77) là hụi viên tên “Út Bé” hốt hụi kỳ thứ 3; bà Trần Kim T7 (Bút lục G) là hụi viên tên “Út Kiều” tức Nguyễn Thị K (con gái bà T7); bà Trần Thị Mỹ L, ông Phạm Văn A (chủ hụi) đều thống nhất trình bày khi hốt hụi thì chủ hụi ông A bà T có giao tiền hụi đầy đủ.

Quá trình giải quyết vụ án, ông A bà T xin rút 01 phần yêu cầu khởi kiện số tiền hụi 10.000.000 đồng do trong đơn khởi kiện của dây hụi thứ 7 tính nhầm 10.000.000 đồng.

Xét thấy, việc ông T1 bà H không tiếp tục đóng hụi chết theo thoả thuận cho ông A bà T là vi phạm Điều 16 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, biêu, phường và ông A, bà T đã thực hiện nghĩa vụ đóng thay tiền hụi chết cho ông T1 bà H cho các hụi viên gồm ông Phạm Văn A, bà Nguyễn Thị K (bà Trần Kim T7), bà Trần Thị Mỹ L còn đối với ông Phạm Văn V thì hốt ở kỳ 3 phía ông T1, bà H đã đóng rồi nên có căn cứ chấp nhận 01 phần yêu cầu của ông A, bà T về yêu cầu Toà án buộc ông T1 bà H trả tiền nợ hụi là 03 x 10.000.000 đồng = 30.000.000 đồng và đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện số tiền hụi 10.000.000 đồng do trong đơn khởi kiện tính nhầm 10.000.000 đồng.

. Đối với dây hụi thứ tám là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), bốn tháng khui một kỳ vào ngày 25/02/2022 âm lịch có 17 chưng, vợ chồng ông T1 tham gia 02 chưng. Vợ chồng ông T1 hốt kỳ thứ 02 ngày 25/6/2022 âm lịch và hốt kỳ thứ 05 ngày 25/5/2023 âm lịch, để thăm 6.200.000 đồng, số tiền hốt được là 71.600.000 đồng, ngưng đóng hụi từ kỳ thứ 07, 08, 09. Ông A, bà T đóng hụi chết thay cho ông T1, bà H số tiền là 03 kỳ hụi chết x 02 chưng = 60.000.000 đồng. Tính đến thời điểm nộp đơn khởi kiện, dây hụi này còn 08 kỳ nữa mới mãn, ngày mãn hụi là ngày 10/3/2027 âm lịch.

Căn cứ biên bản lấy lời khai của bà Trần Lệ H9 (Bút lục 83) là hụi viên tên “7 B3” chưa hốt dây hụi này, ông T1 bà H đã hốt hụi kỳ thứ 2 và kỳ thứ 5, dây hụi này ông A vẫn tiếp tục duy truỳ; bà Nguyễn Cẩm T8 là hụi viên tên “Bé T8”; bà Trần Thị Mỹ L trình bày khi hốt hụi thì chủ hụi ông A bà T có giao tiền hụi đầy đủ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, ông A bà T xin rút 01 phần yêu cầu khởi kiện số tiền hụi 20.000.000 đồng do yêu cầu ông T1 bà H trả số tiền đóng thay cho hụi viên ông Phạm Văn H2.

Xét thấy, việc ông T1 bà H không tiếp tục đóng hụi chết theo thoả thuận cho ông A bà T là vi phạm Điều 16 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, biêu, phường và ông A bà T đã thực hiện nghĩa vụ đóng thay tiền hụi chết cho ông T1 bà H cho các hụi viên bà Nguyễn Cẩm T8, bà Trần Thị Mỹ L theo quy định tại Điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, biêu, phường nên có căn cứ chấp nhận 01 phần yêu cầu của ông A, bà T về yêu cầu Toà án buộc ông T1 bà H trả tiền nợ hụi là 02 x 02 chưng x 10.000.000 đồng = 40.000.000 đồng.

Và đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện số tiền 20.000.000 đồng do ông A bà T xin rút 01 phần yêu cầu khởi kiện số tiền hụi 20.000.000 đồng do yêu cầu ông T1 bà H trả số tiền đóng thay cho hụi viên ông Phạm Văn H2.

. Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định giữa ông T1, bà H có tham gia chơi hụi theo các dây hụi mà ông A, bà T khởi kiện. Việc ông T1, bà Hoàng H1 hụi nhưng không đóng hụi chết cho chủ hụi, đã vi phạm nghĩa vụ của hụi viên đối với chủ hụi. Ông T1 và bà H biết rõ mình đang nợ ông A, bà T nhưng từ bỏ quyền, nghĩa vụ không đến Tòa án trình bày ý kiến. Căn cứ biên bản xác minh ngày 25 tháng 12 năm 2024 Trưởng ấp C, xã C, huyện V là bà Nguyễn Thanh T9 xác định hiện ông T1 và bà H vẫn còn cư trú địa phương, đi cầm vịt nên không có nhà; ông T1 và bà H vẫn sống chung, làm kinh tế chung. Từ đó có căn cứ xác định số tiền nợ hụi mà ông A, bà T kiện ông T1, bà H là nợ chung của ông T1, bà H; cần buộc ông T1, bà H có trách nhiệm trả cho ông A, bà T số tiền hụi 216.000.000 đồng. Chấp nhận rút một phần yêu cầu khởi kiện và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông A, bà T đối với ông T1, bà H đối với số tiền hụi 40.000.000 đồng.

. Về án phí: Ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H phải chịu số tiền án phí dân sự có giá ngạch là 10.800.000 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi. Ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T không phải chịu án phí. Ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T đã nộp tạm ứng án phí 6.400.000 đồng theo Biên lai số 0004398 ngày 04/11/2024, được hoàn lại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi.

. Từ những phân tích trên chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều

147, Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về hụi, họ, bieu, phường; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T đối với ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H về việc trả số tiền nợ hụi 216.000.000 đồng (hai trăm mười sáu triệu đồng).

2. Buộc ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H cùng có trách nhiệm thanh toán cho ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T số tiền nợ hụi 216.000.000 đồng (hai trăm mười sáu triệu đồng).

Kể từ ngày ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Chấp nhận yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T đối với ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H về số tiền nợ hụi 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

4. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T đối với ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H về số tiền nợ hụi 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

5. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Trần Văn T1, bà Võ Kim H phải chịu số tiền án phí dân sự có giá ngạch là 10.800.000 đồng (mười triệu tám trăm nghìn đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi. Ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T không phải chịu án phí. Ông Phạm Văn A, bà Trần Thị T đã nộp tạm ứng án phí 6.400.000 đồng (sáu triệu bốn trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0004398 ngày 04/11/2024, được hoàn lại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi.

6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặtđược quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ