vanban.org

Bản án 26/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Diễm T. Buộc ông Nguyễn

Phương V có nghĩa vụ trả bà Phạm Diễm T số tiền 4.800.000 (Bốn triệu tám trăm nghìn) đồng khi án có hiệu lực pháp luật. 2/ Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Diễm T về việc yêu cầu ông Nguyễn Phương V trả số tiền vay 1.500.000 đồng trong tháng 8/2022 và số tiền vay 1.500.000 đồng ngày 14/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Diễm T. Buộc ông Nguyễn
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 26/2025/DS-ST
Ngày: 14- 02- 2025
V/v tranh chấp: “Hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Đặng Bình Thủy

2/ Ông Nguyễn Văn Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Vĩnh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 14 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 255/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp: "Hợp đồng vay tài sản". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 312/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Diễm T, sinh năm xxxx, có mặt

Địa chỉ: Số A, đường P, khu phố A, phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang;

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phương V, sinh năm xxxx, vắng mặt

Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 8 năm 2024 và quá trình xét xử,

nguyên đơn bà Phạm Diễm T trình bày: Do mối quan hệ tình cảm nên ngày 28/3/2020 (Nhằm ngày 06/4/2020 âm lịch) ông Vũ M bà T số tiền 4.800.000 đồng, có viết giấy mượn tiền hẹn vài ngày sau trả, không tính lãi. Trong tháng 8/2022 ông V có mượn bà T thêm 1.500.000 đồng, đến ngày 14/4/2023 ông Vũ M thêm 1.500.000 đồng, không tính lãi. Bà D nhiều lần đòi tiền ông V có hứa trả nhưng đến nay chưa trả tiền. Bà D yêu cầu ông V trả số tiền 4.800.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu lãi. Bà D xin rút yêu cầu ông V trả số tiền 3.000.000 đồng còn lại.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Phương V vắng mặt không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Việc nộp đơn khởi kiện, thụ lý đơn và thẩm quyền giải quyết của Tòa án đúng quy định. Việc thu thập tài liệu chứng cứ; thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Phương V được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông V.

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của đương sự tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 463 Bộ luật dân sự.

Tại phiên tòa bà T yêu cầu ông V trả số tiền vay 4.800.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 06/4/2020 có chữ ký và viết tên Nguyễn Phương V. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông V, nhưng ông V không đến Tòa án trình bày ý kiến, không gởi văn bản ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Ông V không phản đối yêu cầu của bà T, không đưa ra chứng cứ trả tiền. Chứng tỏ ông V thừa nhận số tiền nợ như bà T yêu cầu. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử kết luận ông V có nợ bà T số tiền 4.800.000 đồng, theo giấy mượn tiền ngày 06/4/2020, nên theo quy định Điều 463, 466 Bộ luật dân sự, ông V phải có nghĩa vụ trả tiền cho bà T. Bà T không yêu cầu lãi, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bà T yêu cầu ông V thực hiện trả tiền khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp. Nên có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà T.

Tại phiên tòa, bà T rút yêu cầu ông V trả số tiền vay 1.500.000 đồng trong

tháng 8/2022 và số tiền vay 1.500.000 đồng ngày 14/4/2023. Xét việc rút yêu cầu của bà T là tự nguyện, phù hợp khoản 2 Điều 244, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu này của bà T.

Về án phí: Yêu cầu của bà T được chấp nhận toàn bộ, nên ông V phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Diễm T. Buộc ông Nguyễn

Phương V có nghĩa vụ trả bà Phạm Diễm T số tiền 4.800.000 (Bốn triệu tám trăm nghìn) đồng khi án có hiệu lực pháp luật.

2/ Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Diễm T về việc yêu cầu ông Nguyễn Phương V trả số tiền vay 1.500.000 đồng trong tháng 8/2022 và số tiền vay 1.500.000 đồng ngày 14/4/2023. Bà T được quyền khởi kiện lại theo quy định khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu thi hành án của bà Phạm

Diễm T cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Nguyễn Phương V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Phương V phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Bà Phạm Diễm T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013662 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ