vanban.org

Bản án 26/2025/DS-ST — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Sawad Tiền Có Ngay.

Buộc anh G có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay tổng số tiền là 7.746.148 đồng, trong đó nợ gốc là 5.801.428 đồng, lãi trong hạn tính từ ngày 02/11/2023 đến ngày 01/3/2024 là 255.263 đồng và lãi quá hạn tính từ ngày 02/3/2024 đến ngày 13/8/2025 là 1.689.456 đồng. Đồng thời buộc anh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản giữa Công ty cổ phần Saward Tiền Có Ngay với anh Nguyễn Trường G"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Sawad Tiền Có Ngay.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/DS-ST
Ngày: 13/8/2025
V/v: Tranh chấp Hợp đồng cầm cố tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Điệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Tuyết Nga

2. Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Thế Hiển - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1-Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long: Không tham gia phiên toà.

Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1-Vĩnh Long xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2025/TLST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay

Địa chỉ: Số 128 đường Nguyễn D, phường Bến T, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nay là số 128 đường Nguyễn D, phường Trường V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT – Chức vụ giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn là anh Nguyễn Minh V, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số 56C đường Phạm Thái B, Phường Z, Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long nay là Số 56C đường Phạm Thái B, phường Phước H, tỉnh Vĩnh Long. (Theo giấy ủy quyền ngày 01/6/2024).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 22/2, ấp An H, xã An B, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long. nay là số 22/2, ấp An H, xã An B, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10/7/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm anh Nguyễn Minh V là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/3/2023, anh Nguyễn Trường G có đến Công ty Cổ phần Sawad Tiền có ngay để thực hiện cầm cố tài sản với mục đích tiêu dùng cá nhân. Tài sản mà anh G tiến hành cầm cố là 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA, loại VARIO 125CC INDO, biển số xe 64B2-179.24 có số khung MH1JM5112JK185780, số máy JM51E1185765 theo giấy chứng nhận đăng ký số 100251 do Công an Vĩnh Long cấp ngày 14/3/2019. Hai bên có thực hiện Hợp đồng cầm cố số VLM230301002NA19X ngày 01/3/2023 với số tiền 16.500.000 đồng, thời hạn cầm cố là 12 tháng từ ngày 01/3/2023 đến ngày 01/3/2024. Lãi suất được quy định như sau: Lãi suất cầm cố là 1.1%/tháng và lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.

Để đảm bảo cho khoản cầm cố này thì anh G đã thế chấp tài sản cầm cố là 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA, loại VARIO 125CC INDO, biển số xe 64B2-179.24 có số khung MH1JM5112JK185780, số máy JM51E1185765 theo giấy chứng nhận đăng ký số 100251 do Công an Vĩnh Long cấp ngày 14/3/2019. Hình thức trả số tiền cầm cố là trả góp hàng tháng mỗi tháng anh G góp là 1.522.158 đồng.

Tuy nhiên khi anh G cầm cố và nhận tiền xong, do có nhu cầu cần xe để sử dụng nên cùng ngày 01/3/2023 anh G có xin mượn lại xe và hai bên có lập giấy mượn xe cùng ngày với thời hạn mượn xe là 01 tháng kể từ ngày 01/3/2023 đến ngày 01/4/2023. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì anh G chỉ thanh toán cho Công ty số tiền hợp đồng cầm cố là 16.454.000 đồng bao gồm cả gốc 10.698.572đ và lãi là 1.051.835đ. Hiện nay còn nợ gốc là 5.801428đ. Công ty Cổ phần Sawad Tiền có ngay đã nhiều lần liên hệ để yêu cầu anh G thực hiện nghĩa vụ trả tiền nhưng anh G vẫn không thực hiện.

Nay nguyên đơn Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay yêu cầu anh G phải thanh toán cho Công ty tính đến 10/7/2024 là: 13.022.249 đồng, trong đó nợ gốc là 5.801.428 đồng, tiền lãi trong hạn là 537.118 đồng, tiền lãi quá hạn là 268.559 đồng, phí quản lý hồ sơ là 244.144 đồng và tiền phí bảo dưỡng, hao mòn khi mượn xe là 6.171.000 đồng.

Bị đơn anh G đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và thông báo về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hai lần cho anh G đến Tòa án làm việc, do anh G không có ở nhà và người thân từ chối nhận thay văn bản, nên cán bộ Thừa phát lại đã thông báo niêm yết công khai theo quy định pháp luật, đến ngày làm việc anh G không đến và không gửi bản khai ý kiến gì về việc Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay yêu cầu anh trả nợ, căn cứ Điều 220, 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn yêu cầu khởi kiện như sau: Do hiện nay, chiếc xe (tài sản cầm cố) anh G đang quản lý sử dụng, nên nguyên đơn yêu cầu anh G trả cho cho công ty Cổ Phần Sawad Tiền Có Ngay số tiền cầm cố tài sản bao gồm gốc và lãi là: 7.746.148 đồng, trong đó nợ gốc là 5.801.428 đồng, lãi trong hạn tính từ ngày 02/11/2023 đến ngày 01/3/2024 là 255.263 đồng và lãi quá hạn tính từ ngày 02/3/2024 đến ngày 13/8/2025 là 1.689.456 đồng. Đồng thời anh G phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn được tính trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 14/8/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Anh G trả xong nợ Công ty sẽ trả giấy đăng ký xe mô tô cho anh G. Đối với chiếc xe anh G đang giữ Công ty không yêu cầu giải quyết.

Nguyên đơn xin rút lại yêu cầu đòi anh G trả tiền tiền phí bảo dưỡng, hao mòn khi mượn xe và tiền phí quản lý hồ sơ, tổng cộng là 6.415.144đ Trường hợp anh G thanh toán đủ số tiền còn nợ cho công ty.

Bị đơn anh G vắng mặt lần 2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Anh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh G không đến và cũng không gửi cho Toà án bản khai ý kiến về việc này. Trên cơ sở anh G còn đăng ký hộ khẩu số 22/2, ấp An Hưng, xã An Bình, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nay là số 22/2, ấp An Hưng, xã An Bình, tỉnh Vĩnh Long, anh G bỏ đi không thay đổi địa chỉ, nên cán bộ Thừa phát lại đã thông báo niêm yết công khai theo quy định pháp luật, đến ngày giải quyết anh G không đến. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử triệu tập lần thứ hai anh G đến Tòa án xét xử nhưng anh G vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử thống nhất giải quyết vắng mặt đối với anh G.

Công ty Cổ phần Sawad Tiền có ngay yêu cầu anh G thanh toán cho Công ty số tiền theo Hợp đồng cầm cố với tổng số tiền là 7.746.148 đồng, trong đó nợ gốc là 5.801.428 đồng, lãi trong hạn tính từ ngày 02/11/2023 đến ngày 01/3/2024 là 255.263 đồng và lãi quá hạn tính từ ngày 02/3/2024 đến ngày 13/8/2025 là 1.689.456 đồng, nên đây là quan hệ dân sự tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 309 Bộ luật dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án được quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự và được sửa đổi bổ sung năm 2025 tại Nghị quyết số: 81/2025 UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân khu vực thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long.

Về nội dung:

Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay yêu cầu anh G trả số tiền cầm cố xe chứa trả cho Công ty số tiền gốc và lãi là 7.746.148 đồng, trong đó nợ gốc là 5.801.428 đồng, lãi trong hạn là 255.263 đồng và lãi quá hạn là 1.689.456 đồng và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc kể từ ngày 14/8/2025 đến khi trả hết nợ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tại hợp đồng cầm cố số VL 230301002NA19X ngày 01/3/2023 có ghi anh G (bên B) đồng ý cầm cố cho Công ty Cổ phần Sawad Tiền có ngay (Bên A) 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA, loại VARIO 125CC INDO, biển số xe 64B2-179.24 có số khung MH1JM5112JK185780, số máy JM51E1185765 theo giấy chứng nhận đăng ký số 100251 do Công an Vĩnh Long cấp ngày 14/3/2019, mục đích chi tiêu cá nhân. Với số tiền cầm cố là 16.500.000đ. Thời hạn cầm cố 12 tháng kể từ ngày 01/3/2023 đến ngày 01/3/2024. Lãi suất được quy định như sau: Lãi suất cầm cố là 1.1%/tháng và lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, anh G đã thế chấp tài sản cầm cố là giấy chứng nhận đăng ký xe số 100251 do Công an Vĩnh Long cấp ngày 14/3/2019 cho Công ty.

Tại phiên toà nay anh G vắng mặt, Toà án gửi văn bản tố tụng triệu tập anh G đến Toà án giải quyết vụ kiện, người nhà từ chối nhận văn bản của Tòa án, nhưng cũng biết Tòa án triệu tập anh G đến Tòa án giải quyết vụ kiện, chứng tỏ anh G cũng biết Toà án giải quyết vụ kiện mà anh G không đến xem như từ chối bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, anh G còn nợ Công ty mà bỏ đi không thanh toán tiền cho Công ty là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Cho nên Công ty Cổ phần Sawad Tiền có ngay yêu cầu anh G thanh toán số tiền cầm cố xe với tổng số tiền bao gồm gốc và lãi là 7.746.148 đồng, lãi trong hạn tính từ ngày 02/11/2023 đến ngày 01/3/2024 là 255.263 đồng và lãi quá hạn tính từ ngày 02/3/2024 đến ngày 13/8/2025 là 1.689.456 đồng. Đồng thời anh G còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn được tính trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 14/8/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Xét giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 100251, biển số 64B2-179.24 ngày 14/3/2019, hiện nay Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay đang giữ, nên Buộc Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay trả giấy chứng nhận đăng ký xe số 100251, biển số xe 64B2-179.24 ngày 14/3/2019 cho anh G.

Nguyên đơn rút lại yêu cầu đòi anh G trả tiền phí quản lý hồ sơ là 244.144 đồng, phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe 6.171.000 đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu này của nguyên đơn.

Đối với chiếc xe honda biển số 64B2-179.24 hiện nay anh G đang giữ, Công ty không yêu cầu giải quyết về chiếc xe. Nên hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Từ những nhận định trên, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh G phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần Sawad Tiền có ngay số nợ gốc và lãi là 7.746.148 đồng, trong đó nợ gốc là 5.801.428 đồng, lãi trong hạn tính từ ngày 02/11/2023 đến ngày 01/3/2024 là 255.263 đồng và lãi quá hạn tính từ ngày 02/3/2024 đến ngày 13/8/2025 là 1.689.456 đồng. Đồng thời yêu cầu anh G phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc kể từ ngày 14/8/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Buộc Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay trả giấy chứng nhận đăng ký xe số 100251, biển số xe 64B2-179.24 ngày 14/3/2019 cho anh G.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc nguyên đơn yêu cầu anh G trả tiền tiền phí quản lý hồ sơ là 244.144 đồng, phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe 6.171.000 đồng.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều khoản 3 Điều 26, 35, 39, 147, 244, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số: 81/2025 UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.

Căn cứ Điều 309, 311, 312, 314, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Sawad Tiền Có Ngay.

Buộc anh G có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay tổng số tiền là 7.746.148 đồng, trong đó nợ gốc là 5.801.428 đồng, lãi trong hạn tính từ ngày 02/11/2023 đến ngày 01/3/2024 là 255.263 đồng và lãi quá hạn tính từ ngày 02/3/2024 đến ngày 13/8/2025 là 1.689.456 đồng. Đồng thời buộc anh G phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn được tính trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 14/8/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Buộc Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay trả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 100251, biển số xe 64B2-179.24 ngày 14/3/2019 cho anh G.

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay đòi anh G trả tiền phí quản lý hồ sơ là 244.144 đồng, phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe 6.171.000 đồng.

Đối với chiếc xe honda biển số 64B2-179.24 hiện nay anh G đang giữ, Công ty không yêu cầu giải quyết về chiếc xe. Nên hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh G phải chịu 387.307 đồng làm tròn thành 388.000 đồng (Ba trăm, tám mươi tám nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm, anh G nộp tại phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Vĩnh Long.

Hoàn trả cho Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 326.000đ (Ba trăm, hai mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số N0002141 ngày 18/4/2025 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1-Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Anh G được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được thông báo niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ