vanban.org

Bản án 26/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện T, thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách của án treo, bị cáo Phạm Văn Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện T, thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-ST
Ngày: 27 - 02 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Bình

2. Bà Phạm Thị Thu Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2024/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn Đ; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1979 tại huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn Q và bà Vũ Thị L; Vợ: Vũ Thị C, sinh năm 1980; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự,: Không; Nhân thân: Ngày 29/6/2018, Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 19 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 38 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 29/11/2020; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 09/10/2023 đến ngày 18/10/2023 được tại ngoại. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/9/2023, anh Nguyễn Đình T (sinh năm 1984, trú tại thôn T, xã Đ, huyện P, thành phố Hà Nội) thuê Phạm Văn Đ điều khiển chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, màu trắng, mang biển kiểm soát 88H-019.42 chở vật liệu xây dựng từ thành phố Hà Nội đi vào thành phố Hồ Chí Minh để giao hàng cho khách và ngược lại. Đến ngày 04/10/2023, Đ nhận hàng tại huyện L, tỉnh Đồng Nai để chở ra thành phố Hà Nội giao cho khách. Trên đường ra đến thành phố Đà Nẵng có anh Nguyễn Văn Đ1 (sinh năm 1986, trú tại xã V, huyện T, thành phố Hà Nội) liên lạc với Đ xin đi nhờ xe. Sau khi đón anh Đ1, Đ tiếp tục điều khiển xe ô tô trên đi ra đến khu vực thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị thì dừng lại tại một quán nước bên đường (không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) để uống nước còn anh Đ1 vẫn nằm ngủ trên xe ô tô. Tại đây, Đ gặp một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ), người này hỏi Đ có mua pháo về nổ tết không thì Đ đồng ý. Hai bên thống nhất mua, bán 09 (Chín) hộp pháo hoa nổ loại 49 (Bốn mươi chín) quả với số tiền 5.850.000 đồng (Năm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Đàm đưa số tiền trên cho người đàn ông này và nhận 01(Một) thùng carton bên trong có 09 (Chín) bao ni lông màu đen đựng 09 (Chín) hộp pháo hoa nổ rồi mang cất giấu trong cabin chiếc xe ô tô tải trên. Đàm tiếp tục điều khiển xe ô tô ra đến thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình thì nhờ anh Đ1 điều khiển xe ô tô cho Đàm ngủ.

Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 08/10/2023, tổ công tác Đ2 Công an thành phố V nhận được tín báo về việc phương tiện xe ô tô nhãn hiệu HINO, màu trắng, mang biển kiểm soát 88H-019.42 vận chuyển hàng cấm là pháo nổ có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài. Vì vậy, khi chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 88H-019.42 chạy ngang qua khu vực trước khách sạn S thuộc khối B, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Nơi giao nhau giữa đường T và đường P, thành phố V) thì tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố V phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố V ra hiệu dừng xe ô tô kiểm tra, tuy nhiên Đ và anh Đ1 đang chạy xe với tốc độ cao và nghĩ là lực lượng Công an dừng xe khác nên đã tiếp tục điều khiển xe chạy ra Quốc lộ A. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi chiếc xe ô tô bỏ chạy đến khu vực Km 428+700 thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị lực lượng Cảnh sát hình sự Công an thành phố V cùng Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố V kịp. Khi dừng xe, qua kiểm tra tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố V phát hiện trên cabin xe ô tô có 01 (Một) thùng carton bằng giấy, màu nâu, kích thước (39x39x30) cm, chứa 09 (Chín) bao ni lông màu đen. Mở từng bao ni lông ra, phát hiện trong mỗi bao có 01 (Một) khối hình hộp chữ nhật, kích thước (17,5x17,5x10) cm, bên ngoài bọc bằng giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, bên trong cấu tạo bởi 49 (Bốn mươi chín) hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn. Tổng cộng có 09 (Chín) khối hình hộp chữ nhật (Nghi là pháo). Tổ công tác tiến hành thu giữ vật chứng, dẫn giải Phạm Văn Đ về Công an thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Căn cứ các biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại lập vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 09/10/2023 và Kết luận giám định số 240/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 15/10/2023 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu vật (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Phạm Văn Đ gửi tới giám định đều là pháo; đều thuộc loại pháo nổ, có khối lượng 15,4 kg (Mười lăm phẩy bốn kilôgam).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- 09 (Chín) khối hình hộp chữ nhật thu giữ của Phạm Văn Đ (sau khi đã lấy 03 (Ba) khối đi giám định hết mẫu), còn lại 06 (Sáu) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (17,5x17,5x10) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu có in chữ nước ngoài, bên trong cấu tạo bằng 49 (Bốn mươi chín) quả hình trụ tròn liên kết với nhau. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng Công an thành phố V.

- 01 (Một) chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, màu trắng, mang biển kiểm soát 88H-019.42 đã qua sử dụng; 01 (Một) giấy biên nhận thế chấp do Ngân hàng TNHH MTV S1 CHI NHÁNH VĨNH PHÚC cấp ngày 23/6/2023; 01(Một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88, nhãn hiệu HINO, màu trắng, mang biển kiểm soát 88H-019.42, đứng tên chủ sở hữu là Nguyễn Văn C1, sinh năm 1985, trú tại T, L, L, Vĩnh Phúc (Bản sao); 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định số EA: 1083890 (Bản gốc); 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, ký hiệu: 01090107, số: 0001018057 (Bản gốc). Quá trình điều tra, xác định tài sản trên thuộc sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Văn C1 (sinh năm 1985, trú tại T, L, L, Vĩnh Phúc). Anh C1 đã giao chiếc xe ô tô và các giấy tờ trên cho anh Nguyễn Đình T để kinh doanh vận chuyển hàng hóa. Khi thuê Phạm Văn Đ chở vật liệu, anh T không biết Đ sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại cho anh Nguyễn Đình T.

Bản Cáo Trạng số 21/CT-VKS-TPV ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố Phạm Văn Đ về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố luận tội tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Văn Đ từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách án treo từ 30 đến 36 tháng. Miễn áp dụng hình bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy pháo nổ đã được niêm phong dán kín hiện có tại Kho vật chứng Công an thành phố V.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

. Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Đ hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 08/10/2023, tổ công tác Đ2 Công an thành phố V nhận được tín báo về việc phương tiện xe ô tô nhãn hiệu HINO, màu trắng, mang biển kiểm soát 88H-019.42 vận chuyển hàng cấm là pháo nổ có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài. Vì vậy, khi chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 88H-019.42 chạy ngang qua khu vực trước khách sạn S thuộc khối B, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Nơi giao nhau giữa đường T và đường P, thành phố V) thì tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố V phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố V ra hiệu dừng xe ô tô kiểm tra, tuy nhiên Đ và anh Đ1 đang chạy xe với tốc độ cao và nghĩ là lực lượng Công an dừng xe khác nên đã tiếp tục điều khiển xe chạy ra Quốc lộ A. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi chiếc xe ô tô bỏ chạy đến khu vực Km 428+700 thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị lực lượng Cảnh sát hình sự Công an thành phố V cùng Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố V kịp, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Phạm Văn Đ có hành vi tàng trữ 15,4 kg (Mười lăm phẩy bốn ki lô gam) pháo nổ để sử dụng. Hành vi bị cáo Phạm Văn Đ thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm các quy định của nhà nước về tàng trữ các loại hàng cấm, đặc biệt là đối với mặt hàng pháo nổ các loại. Bị cáo là người đã trưởng thành, có nhân thân xấu, biết rõ tác hại của pháo nổ có thể gây thiệt hại đến tài sản, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của con người nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật, ngang nhiên thực hiện hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã từng có thành tích bắt giữ đối tượng trộm cắp tài sản được Công an thành phố H tặng giấy khen; gia đình bị cáo có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo có cơ hội được cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm.

. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Trong vụ án này, đối với anh Nguyễn Văn Đ1 là người xin đi nhờ xe ô tô với Đ, quá trình điều tra xác định, anh Đ1 không biết việc Đ mua pháo nổ nên không phạm tội.

Đối với người đàn ông đã bán pháo nổ cho Đ, do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

. Về xử lý vật chứng: 09 (Chín) hộp pháo hoa thu giữ của Phạm Văn Đ. Sau khi đã lấy 03 (Ba) hộp đi giám định hết mẫu, còn lại 06 (Sáu) hộp pháo hoa, loại 49 quả, kích thước 17,5x17,5x10 cm, do nước ngoài sản xuất; 09 (Chín) bao ni lon màu đen. Toàn bộ đồ vật trên được niêm phong vào 01(Một) thùng cattoon bằng giấy, màu nâu, có kích thước (39x39x30) cm. Đây là P nổ là vật cấm sản xuất, lưu hành, tàng trữ, mua bán nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (Một) chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, màu trắng, mang biển kiểm soát 88H-019.42 đã qua sử dụng; 01 (Một) giấy biên nhận thế chấp do Ngân hàng TNHH MTV S1 CHI NHÁNH VĨNH PHÚC cấp ngày 23/6/2023; 01(Một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88, nhãn hiệu HINO, màu trắng, mang biển kiểm soát 88H-019.42, đứng tên chủ sở hữu là Nguyễn Văn C1, sinh năm 1985, trú tại T, L, L, Vĩnh Phúc (Bản sao); 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định số EA: 1083890 (Bản gốc); 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, ký hiệu: 01090107, số: 0001018057 (Bản gốc). Quá trình điều tra, xác định tài sản trên thuộc sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Văn C1 (sinh năm 1985, trú tại T, L, L, Vĩnh Phúc). Anh C1 đã giao chiếc xe ô tô và các giấy tờ trên cho anh Nguyễn Đình T để kinh doanh vận chuyển hàng hóa. Khi thuê Phạm Văn Đ chở vật liệu, anh T không biết Đ sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại cho anh Nguyễn Đình T nên miễn xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Văn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/02/2024.

Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện T, thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách của án treo, bị cáo Phạm Văn Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 06 (Sáu) hộp pháo hoa, loại 49 quả, kích thước 17,5x17,5x10 cm, do nước ngoài sản xuất; 09 (Chín) bao ni lon màu đen đã được niêm phong dán kín vào 01(Một) thùng cattoon bằng giấy, màu nâu, có kích thước (39x39x30) cm hiện có tại Kho vật chứng Công an thành phố V theo phiếu nhập kho vật chứng số 237/PNK ngày 17/10/2023.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ