vanban.org

Bản án 26/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 05/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Mạnh N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS - ST
Ngày 05/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC KẠN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vũ Đình Hưng;

2/ Ông Nông Hữu Thái.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Biên – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST - HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Đoàn Mạnh N(tên gọi khác: Không); sinh ngày 01 tháng 6 năm 1977; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 7, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Đoàn Mạnh Th (Đã chết) và bà: Lê Thị Ch; vợ: Lường Thị H – Đã ly hôn; con: Có 01 con, sinh năm 2015.

- Tiền án: 01 tiền án. Tại Bản án số 588/2020/HSST ngày 11/12/2020 của TAND thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Ngày 26/11/2021, chấp hành xong hình phạt tù chưa được xoá án tích.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Năm 1999, bị Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản (theo Quyết định số 1531 ngày 01/12/1999). Chấp hành xong ngày 25/11/2001.

+ Ngày 28/01/2008, bị TAND thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Đã được xóa án tích).

+ Ngày 17/7/2009, bị TAND huyện Ch, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tại Bản án số 26/2009/HSST ngày 17/7/2009). (Đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn từ ngày 18/12/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Bà Lưu Thị Minh Qu, sinh năm 1982; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Tổ 7, phường Phùng Chí Kiên, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

Có mặt.

NỘI DUNG V N:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 ngày 26/10/2023, Đoàn Mạnh N (sinh năm 1977, trú tại tổ 7, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn) đi bộ từ nhà đến trung tâm thương mại Vincom thuộc tổ 8A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn phát hiện trên vỉa hè, đối diện trung tâm thương mại Vincom có 01 (một) chiếc xe đạp, loại xe địa hình, nhãn hiệu GALAXY, màu sơn xanh, đen đang dựng, không khóa, không có người trông (xe thuộc sở hữu của bà Lưu Thị Minh Qu, sinh năm 1982, trú tại tổ 7, phường Ph, thành phố B,tỉnh Bắc Kạn) nên N đã nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền về sử dụng ma túy. N tiến lại gần dùng tay phải gạt chân chống xe lên r i dắt xe từ vỉa hè xuống gần mép đường và ng i lên xe đạp đi trên đường Quốc lộ 3 theo hướng Bắc Kạn- Cao Bằng đến khu vực cầu H thuộc phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để tìm chỗ bán xe lấy tiền, N gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ, N bảo với người này chiếc xe đạp trên là của N và hỏi người này có chỗ nào mua chiếc xe đạp này không, người này hỏi N bán xe này bao nhiêu tiền, N bảo bán với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đ ng), người này đ ng ý và đưa cho N số tiền 300.000đ, N giao xe cho người đàn ông này r i đi bộ về nhà thi đấu Thanh niên thay quần áo và đi tìm mua ma túy về để sử dụng sau đó đi về nhà. Ngày 29/10/2023, bà Lưu Thị Minh Qu đã đến Công an phường Đ, thành phố B để trình báo sự việc.

Qua truy xét, Công an phường Đ, thành phố B xác định Đoàn Mạnh N là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Lưu Thị Minh Qu. Ngày 03/11/2023, Công an phường Đ, thành phố B đã triệu tập Đoàn Mạnh N đến trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 248 ngày 11/11/2023 của Hội đ ng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố B, tỉnh Bắc Kạn kết luận: “01 (một) xe đạp, loại xe địa hình, nhãn hiệu GALAXY, màu sơn xanh, đen mua năm 2022, có giá là 2.850.000đ (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Đoàn Mạnh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT - VKSTP ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Đoàn Mạnh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều luật có nội dung:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

…..

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Tại phiên toà:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị Hội đ ng xét xử (HĐXX):

Tuyên bố bị cáo Đoàn Mạnh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Mạnh N từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 18/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Đoàn Mạnh N phải b i thường thiệt hại về tài sản cho bà Lưu Thị Minh Qu với số tiền là 2.850.000đ (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đ ng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) đôi dép nhựa xốp có đế màu trắng, quai màu đen có viền kẻ màu trắng, trên quai dép có ghi chữ SPORT, dép cũ đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu nâu, tím, áo cũ đã qua sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Đoàn Mạnh N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo nhất trí b i thường cho bị hại số tiền 2.850.000 đ ng (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đ ng) và nhất trí với mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo, không có ý kiến gì.

- Người bị hại bà Lưu Thị Minh Qu yêu cầu bị cáo phải b i thường giá trị chiếc xe bị mất trộm là 2.850.000đ (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đ ng) và đề nghị Toà án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Mạnh Nthành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong h sơ vụ án do vậy có căn cứ xác định:

Khoảng 10 giờ 00 ngày 26/10/2023, tại tổ 8A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Đoàn Mạnh N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe đạp, loại xe địa hình, màu sơn xanh, đen của bà Lưu Thị Minh Qu có trị giá là 2.850.000đ (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đ ng). Sau đó bán cho một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ tại cầu H, thuộc phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn được số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đ ng).

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

3 Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, cần xử lý theo pháp luật hình sự.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 1999, bị Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Năm 2008, bị TAND thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2009 bị TAND huyện Ch, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2020 bị TAND thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 26/11/2021, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích thì đến ngày 26/10/2023 lại thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” nêu trên. Bị cáo đã bị xét xử và đi chấp hành án nhiều lần nhưng vẫn không rút ra được bài học cho mình, không chịu tu dưỡng, rèn luyện thành công dân có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Qua đó thể hiện bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo, không có ý thức chấp hành pháp luật, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 588/2020/HSST ngày 11/12/2020 của TAND thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Đoàn Mạnh N 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Ngày 26/11/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích thì đến ngày 26/10/2023 lại thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

5 Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành một mức hình phạt tù nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng do đó Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại bà Lưu Thị Minh Qu yêu cầu bị cáo phải b i thường giá trị chiếc xe đạp bị mất trộm là 2.850.000đ (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đ ng). Bị cáo cũng nhất trí b i thường theo yêu cầu của bị hại nhưng hiện tại chưa b i thường được khoản tiền nào. Xét yêu cầu của bị hại là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận. Do vậy, cần căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Đoàn Mạnh N phải b i thường thiệt hại về tài sản cho bà Lưu Thị Minh Qu với số tiền là 2.850.000đ (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đ ng).

[8 Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) đôi dép nhựa xốp có đế màu trắng, quai màu đen có viền kẻ màu trắng, trên quai dép có ghi chữ SPORT, dép cũ đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu nâu, tím, áo cũ đã qua sử dụng, tạm giữ của bị cáo Đoàn Mạnh N, hiện không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với chiếc xe đạp, loại địa hình, nhãn hiệu GALAXY, màu sơn xanh, đen bị cáo đã bán cho người đàn ông không rõ tên tuổi, lai lịch, nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

- Đối với số tiền 300.000 đ ng có được từ việc bán tài sản trộm cắp, Đoàn Mạnh N đã chi tiêu cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Đối với người đàn ông đã mua chiếc xe đạp do N bán cho tại cầu H, thuộc phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, N không biết tên, tuổi, địa chỉ người này. Do vậy Cơ quan điều tra không đủ thông tin để xác minh thu giữ.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Mạnh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Mạnh N 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 18/12/2023.

2.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Đoàn Mạnh N phải b i thường thiệt hại về tài sản cho bà Lưu Thị Minh Qu với số tiền là 2.850.000đ (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đ ng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) đôi dép nhựa xốp có đế màu trắng, quai màu đen có viền kẻ màu trắng, trên quai dép có ghi chữ SPORT, dép cũ đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu nâu, tím, áo cũ đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Bị cáo Đoàn Mạnh N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đ ng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ