- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đại - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đại, Nguyễn Văn Ngọc và Hà Hoàng Giang phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Giữ người trái pháp luật”.
- Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẮC NINH Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 18 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Xuân - Giáo viên về hưu.
Ông Trịnh Thanh Bình - Bí thư đoàn thanh niên.
Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Quang Huy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/HSST-QĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024; theo quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Trần Văn Đại, sinh năm 1992;
HKTT: TDP Nhiêu Hà, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đãi, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Nga, sinh năm 1972; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Linh Đăng (đã chết); con: có 01 con sinh năm 2017.
Tiền án: 01 tiền án.
Tại Bản án số 66/2021/HS-ST ngày 30/7/2021, Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt Đại 04 năm 6 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 BLHS. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2023.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Văn Ngọc, sinh năm 1982;
HKTT: Thôn Ân Phú, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Phú, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị Đồ, sinh năm 1954; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Chị Nguyễn Thị Xiêm, sinh năm 1984, Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2009.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên toà).
3. Hà Hoàng Giang, sinh ngày 14/9/2006;
HKTT: Thôn Cộ, xã Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn Chung, sinh năm 1985 và bà Lê Thị Hương, sinh năm 1987; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024, đến ngày 20/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo tại ngoại tại địa phương (Có mặt tại phiên toà).
* Người bào chữa cho bị cáo Ngọc: Bà Nguyễn Thị Thoan-Luật sư, Văn phòng Luật sư Đức Thịnh - Đoàn Luật sư tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
Địa chỉ: Số 891 đường Âu Cơ, phường Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
* Người bào chữa cho bị cáo Giang: Ông Hoàng Nhật Huy-Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh (Xin vắng mặt).
* Bị hại:
1. Cháu Lê Khắc Quân, sinh ngày 13/01/2009 (Vắng mặt);
Người đại diện cho cháu Quân: Ông Lê Khắc Huy, sinh năm 1985 (bố của Huy) (Vắng mặt);
Cùng HKTT: Thôn Hiệp Lực, xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
2. Cháu Hà Duy An, sinh năm 09/11/2007 (Vắng mặt);
Người đại diện cho cháu An: Ông Hà Văn Tưởng, sinh năm 1983 (bố của Tưởng) (Vắng mặt);
Cùng HKTT: Thôn Cú Tá, xã Tam Văn, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
3. Cháu Lô Văn Phú, sinh năm 12/11/2007 (Vắng mặt);
Người đại diện cho cháu Quân, An, Phú: Ông Nguyễn Hữu Quyết - Phó Bí thư Đoàn xã Hoàn Sơn (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: UBND xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Văn Đãi, sinh năm 1972 (Có mặt);
HKTT: TDP Nhiêu Hà, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
2. Chị Nguyễn Thị Xiêm, sinh năm 1984 (Có mặt);
HKTT: Thôn Ân Phú, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
3. Chị Lê Thị Hương, sinh năm 1987 (Có mặt);
4. Anh Hà Văn Chung, sinh năm 1985 (Có mặt);
Cùng HKTT: Thôn Cộ, xã Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá.
5. Cháu Lô Văn Khải, sinh năm 06/3/2007 (Vắng mặt);
HKTT: Thôn Tân Hương, xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
6. Cháu Lô Văn Thắng, sinh năm 05/4/2007 (Vắng mặt);
HKTT: Thôn Tân Hương, xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện cho Khải, Thắng: Ông Nguyễn Hữu Quyết - Phó Bí thư Đoàn xã Hoàn Sơn (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: UBND xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn Đại, sinh năm 1992 ở TDP Nhiêu Hà, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Văn Ngọc, sinh năm 1982 ở thôn Ân Phú, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh cùng mở Văn phòng tuyển dụng lao động ĐTH có địa chỉ tại thôn Đồng Xép, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh từ đầu tháng 3/2024 để tuyển dụng công nhân thời vụ cung cấp cho các công ty trong khu công nghiệp. Đại và Ngọc thuê Hà Hoàng Giang, sinh năm 14/9/2006 ở thôn Cộ, xã Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa là cộng tác viên cùng làm tuyển dụng lao động với Đại và Ngọc.
Từ khoảng giữa tháng 3/2024, Lê Khắc Quân, sinh ngày 13/01/2009 ở thôn Hiệp Lực, xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Hà Duy An, sinh năm 09/11/2007 ở thôn Cú Tá, xã Tam Văn, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa, Lô Văn Phú, sinh năm 12/11/2007 ở thôn Trung Hương, xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đến văn phòng tuyển dụng ĐTH nhờ tìm việc thì Đại, Ngọc đồng ý và bố trí cho Quân, An, Phú ở tại phòng trọ do Đại và Ngọc thuê để cho người lao động ở chờ việc làm, sát với văn phòng tuyển dụng. Trong thời gian chờ xin việc, đi làm, Quân, An, Phú được Đại, Ngọc chi trả tiền xe, tiền ứng chi phí sinh hoạt.... tổng cộng số tiền là 1.550.000 đồng. Hai bên thống nhất khi nào đi làm, có tiền lương thì sẽ trả lại cho Đại, Ngọc. Tối ngày 18/3/2024, Quân, An, Phú rủ nhau sang thành phố Hà Nội chơi. Đến sáng ngày 20/3/2024, do hết tiền tiêu nên cả nhóm thuê xe taxi quay về phòng trọ. Trên đường đi, Quân gọi điện cho Đại nhờ trả tiền taxi hộ thì Đại đồng ý và bảo cả nhóm Quân, An, Phú đi về văn phòng ĐHT, Đại sẽ thanh toán tiền taxi giúp. Sau khi nói chuyện với Quân, Đại nói cho Ngọc biết sẽ đòi tiền nhóm của Quân (gồm tiền xe taxi và tiền ứng sinh hoạt Đạt đã trả) thì Ngọc đồng ý. Sau đó, Đại gọi điện bảo Giang khi nào nhóm Quân, An, Phú về thì đón và đưa vào phòng trọ trông giữ, đợi Đại, Ngọc về sẽ đòi tiền, Giang đồng ý.
Đến khoảng 12h00 phút ngày 20/3/2024, Quân, An, Phú về đến khu trọ thì Giang ra đón và đưa cả ba vào ở phòng trọ cạnh văn phòng tuyển dụng ĐHT. Sau khi vào trong phòng trọ, Giang nói với Quân, An, Phú: “Hôm nay chúng mày chết với tao” (để doạ nhóm Quân) đồng thời đứng ở cửa phòng trọ trông không cho Quân, An, Phú đi ra ngoài. Một lúc sau, Đại và Ngọc về đến văn phòng. Đại trả tiền taxi cho nhóm Quân hết 680.000 đồng rồi bảo Giang “Đưa ba thằng nó sang bên này”. Thấy vậy, Giang đưa Quân, An, Phú đi từ phòng trọ sang văn phòng tuyển dụng. Khi vào trong, Ngọc kéo cửa xếp, đóng cửa kính của văn phòng lại. Đại bắt Quân, An, Phú đứng sát vào góc tường, tay giơ 01 thanh sắt hộp dài 51cm, Đại lấy ở trong văn phòng, lên dọa đánh. Quân lao vào Đại can ngăn thì bị Đại dùng đầu gối chân phải thúc vào bụng. Đại tiếp tục cầm thanh sắt hộp chỉ vào mặt từng người và nói: “Thằng Quân phải trả tao 3 triệu, hai thằng còn lại mỗi thằng 1 triệu”. Khi nhóm Quân nói không có tiền trả, Đại chửi tiếp: “Địt mẹ sao chúng mày lại làm vậy”. Ngọc nghe vậy thì nói tiếp: “Làm ăn gì bọn này nữa, cộng sổ vào đi, thanh toán trả tiền xong thì cho về”. Đại nói với Ngọc: “Anh biết thì anh cộng đi”. Sau đó Đại lấy 01 quyển sổ màu đen đưa cho Ngọc để ghi chép và cộng các khoản chi phí nhóm Quân, An, Phú phải trả gồm. Ngọc cộng khống các khoản chi phí yêu cầu nhóm Quân phải trả tổng số 12.290.000 đồng trong đó Lê Khắc Quân là 5.090.000 đồng, Hà Duy An là 4.200.000 đồng, Lô Văn Phú là 3.000.000 đồng. Sau khi ghi xong Ngọc đọc cho nhóm Quân nghe và bắt ký xác nhận vào phần chi phí tương ứng của từng người. Quân, An, Phú bị dọa nên sợ và ký xác nhận số tiền phải trả của mình vào quyển sổ do Ngọc đưa cho. Ngọc tiếp tục nói: “ba thằng mày trả tiền đi, nếu không có tiền trả thì điện cho bố mẹ hoặc người nhà mang tiền đến đây thì bọn tao cho về”. Khoảng 2 tiếng sau thấy nhóm anh Quân, An, Phú vẫn không có tiền trả, Ngọc chửi bới và dùng thanh sắt hộp của Đại gõ vào chân Quân, Phú, An mỗi người 01 cái để tiếp tục gây sức ép. Đại lấy 01 con dao dài 34,5 cm, chuôi bằng gỗ màu vàng, bản dao chỗ rộng nhất là 5,5cm ở trong bếp ra dọa: “Nếu không trả tiền thì mỗi thằng để lại một bàn tay”. Do Quân, An, Phú đều nói không có tiền trả nên Đại bảo Giang lấy điện thoại cho Quân, An, Phú gọi, nhờ người mang tiền đến trả. Giang đưa 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr, màu vàng, dung lượng 64GB, được độ theo kiểu dáng Iphone 12 cho Quân, An, Phú lần lượt liên lạc với người thân. Quân gọi cho anh Lê Khắc Huy, sinh năm 1985 là bố đẻ của Quân, An gọi cho anh Hà Văn Tưởng, sinh năm 1983 là bố đẻ của An, Phú gọi Lô Văn Thắng, sinh năm 05/4/2007 ở Trung Chính, Yên Khê, Con Cuông, Nghệ An là bạn của Phú để vay và mang tiền đến trả nhóm Đại, Ngọc, Giang giúp. Nhưng đều không nhờ được ai. Sau đó, Phú nói cần dùng sim ở balo bên phòng trọ để đăng nhập tài khoản facebook và liên hệ với người nhà vay tiền nên Đại bảo Giang sang phòng trọ lấy sim cho Phú. Giang đi sang phòng trọ bên cạnh lấy balo của Phú và 01 chiếc gậy tuýt sắt dài 01m để ở phòng trọ này. Khi về văn phòng tuyển dụng, Giang cầm gậy tuýt sắt tiếp tục dọa Quân, An, Phú. Đại lấy chiếc gậy của Giang mang sang chặn vào tay kéo cửa hai bên của cửa kính, không cho Quân, An, Phú chạy ra khỏi văn phòng.
Phú tìm sim trong balo nhưng không thấy nên tiếp tục sử dụng điện thoại, tài khoản facebook của Giang là “Giang Bếch (Sống theo bản năng)” liên lạc với chú ruột là anh Lô Văn Đạt, sinh năm 1995 ở Trung Hương, Yên Khê, Con Cuông, Nghệ An hỏi vay 3.000.000 đồng và bảo anh Đạt chuyển khoản cho Lô Văn Thắng để anh Thắng mang tiền đến trả giúp. Anh Đạt đồng ý. Tuy nhiên, do anh Thắng không có tài khoản nên anh Đạt không chuyển tiền được. Anh Thắng nói chuyện của Phú cho anh Lô Văn Khải, sinh năm 06/3/2007 ở Tân Hương, Yên Khê, Con Cuông, Nghệ An biết, rủ anh Khải cùng cho Phú vay tiền và mang đến văn phòng tuyển dụng trả thay cho Phú. Sau đó, anh Thắng và anh Khải đi đến văn phòng tuyển dụng trả cho Ngọc 2.200.000 đồng tiền mặt (là tiền của anh Thắng) nhưng Ngọc nói chưa đủ. Nên anh Khải chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của Khải số 0352163347 tại ngân hàng MB Bank của anh Khải sang tài khoản ngân hàng BIDV số 21410002830946 của Nguyễn Văn Ngọc số tiền 800.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền, Đại, Ngọc cho Phú ra khỏi văn phòng. Quân, An do không có tiền trả, cũng không nhờ được người mang tiền đến trả giúp nên vẫn tiếp tục bị giữ ở lại trong văn phòng tuyển dụng ĐHT. Đến 17 giờ 15 phút cùng ngày, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, lực lượng Công an huyện Tiên Du tiến hành kiểm tra, phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ tang vật và đưa những người có liên quan về trụ sở để làm việc.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) quyển sổ viết tay bìa màu đen, kích thước 15x10,5 cm
- 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài 01 m
- 01 (một) thanh kim loại hình hộp dài 51 cm
- 01 (một) con dao bằng kim loại dài 34,5 cm, chuôi bằng gỗ màu vàng, bản dao chỗ rộng nhất là 5,5 cm.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Khắc Quân, Hà Duy An là Lô Văn Phú viết đơn trình báo toàn bộ sự việc. Trần Văn Đại, Nguyễn Văn Ngọc, Hà Hoàng Giang khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân như nêu trên.
Cùng ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã tiến hành khám nghiệm hiện trường.
Ngày 21/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã ra lệnh bắt bị cáo để tạm giam đối với Trần Văn Đại, Nguyễn Văn Ngọc và Hà Hoàng Giang. Thu giữ:
- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr, màu vàng, dung lượng 64GB (được độ theo kiểu dang Iphone 12) của Hà Hoàng Giang.
- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite, màu vàng và 2.000.000 đồng của Trần Văn Đại.
- Số tiền 200.000 đồng của Nguyễn Văn Ngọc giao nộp.
Ngày 08/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du đã Trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký tại trang số 28, 29 của 01 (một) quyển sổ viết tay, bìa màu đen kích thước 15x10,5cm (mẫu giám định A). Tại bản Kết luận giám định số 1190/KL-KTHS ngày 16/5/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- Chữ viết tại phần nội dung trên trang số 28, 29 mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết của Nguyễn Văn Ngọc, SN 1982 ở Ân Phú, Phú Lâm, Tiên Du, Bắc Ninh (mẫu so sánh M1) là do cùng một người viết ra.
- Chữ ký, chữ viết đứng tên “Lê Khắc Quân” trên trang số 28 mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Lê Khắc Quân, SN 2009 ở Bồi Sơn, Đô Lương, Nghệ An trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2) là do cùng một người viết ra.
- Chữ ký, chữ viết đứng tên “Hà Duy An” trên trang số 29 mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Hà Duy An, SN 2007 ở Tam Văn, Lang Chánh, Thanh Hóa trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M3) là do cùng một người viết ra.
- Chữ ký, chữ viết đứng tên “Lô Văn Phú” trên trang số 29 mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Lô Văn Phú, SN 2007 ở Yên Khê, Con Cuông, Nghệ An trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M4) là do cùng một người viết ra.
Về trưng cầu giám định thương tích:
Ngày 17/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du đã Trưng cầu Trung tâm pháp y – Sở y tế, tỉnh Bắc Ninh giám định tỷ lệ % thương tích đối với Lê Khắc Quân, Hà Duy An, Lô Văn Phú. Tuy nhiên Quân, An, Phú kiên quyết từ chối giám định thương tích, từ chối dẫn giải.
Quá trình điều tra, Hà Hoàng Giang trình bày Trần Văn Đại, Nguyễn Văn Ngọc giữ 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Wave, màu xanh xám, BKS 12K7-5740 của Giang. Cụ thể như sau: Từ khoảng đầu tháng 3/2024, Giang được Đại, Ngọc xin việc vào làm thời vụ tại một số công ty ở khu công nghiệp Tiên Sơn và lo cho Giang ăn, ở tại phòng trọ gần văn phòng tuyển dụng. Giang có giới thiệu về văn phòng tuyển dụng để Đại, Ngọc lo xin việc cho thêm 05 người có tên là Xuân, Minh, Hiếu, Quân, Hải (không rõ thông tin cụ thể) vào làm thời vụ tại một số công ty ở khu công nghiệp Tiên Sơn. Tuy nhiên bản thân Giang và những người có tên Xuân, Minh, Hiếu, Quân, Hải đều chỉ đi làm một vài ngày thì bỏ việc, đi đâu không rõ. Giang vẫn ở lại phòng trọ để làm cộng tác viên cho văn phòng tuyển dụng của Đại, Ngọc. Đại đã ghi các chi phí ứng tiền, lo việc, ăn, ở, đi lại... của Giang và 05 người này vào 01 quyển sổ ghi chép và yêu cầu Giang phải chịu trách nhiệm trả tổng số tiền là 5.550.000 đồng cho Xuân, Minh, Hiếu, Quân, Hải. Thấy khoản ghi chép này đúng nên Giang đồng ý trả cho Đại, Ngọc khoản tiền này và đã trả được 1.210.000 đồng, còn lại chưa trả 4.340.000 đồng.
Đến khoảng 9h00 ngày 13/3/2024, Giang điều khiển 01 chiếc xe mô tô, kiểu dáng Honda Wave, màu xanh xám, BKS 12K7-5740 của Giang đi công việc cá nhân thì Đại gọi điện bảo Giang đến văn phòng tuyển dụng ĐHT. Tại đây, Đại và Ngọc yêu cầu Giang trả số tiền 4.340.000 đồng. Do không có tiền trả, nên Giang đã đưa lại chiếc xe mô tô trên cho Đại và Ngọc giữ cho đến khi Giang trả được nợ. Đến ngày 14/3/2024, Ngọc đưa chiếc xe cho anh Nguyễn Văn Phương, SN 1992 ở Tiền Ngoài, Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, Bắc Ninh mượn làm phương tiện đi lại.
Sau đó, Đại, Ngọc và Giang bị bắt tạm giam nên anh Phương vẫn quản lý, sử dụng chiếc xe. Đến ngày 10/8/2024, sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Tiên Du thông báo thì anh Phương đã tự giao nộp chiếc xe cho Cơ quan điều tra.
Về nguồn gốc xe, quá trình xác minh xác định: Chiếc xe trên có đăng ký chủ sở hữu là Hoàng Thị Diệp, sinh năm 1990 ở Khòn Luộc, Tràng Các, Văn Quan, Lạng Sơn. Tháng 8/2009, chị Diệp mua chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại. Đến năm 2018, chị bán chiếc xe cho 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi, không làm thủ tục giấy tờ gì. Hiện chị Diệp không nhớ, không lưu giữ thông tin gì liên quan người đã mua xe của Diệp.
Hà Hoàng Giang trình bày, đầu năm 2024 Giang mua lại chiếc xe của 01 người đàn ông ở khu vực Quế Võ, Bắc Ninh với giá là khoảng 4.500.000 đồng của 01 đàn ông khoảng 45 tuổi cùng làm công nhân thời vụ tại công trường ở Quế Võ, Bắc Ninh. Khi mua bán trả tiền mặt, giao xe trực tiếp, không làm thủ tục giấy tờ gì. Hiện Giang không nhớ, không lưu giữ thông tin gì liên quan người đã bán xe cho Giang.
Xét thấy, Giang là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe, chiếc xe trên là do Giang nợ tiền nên tự nguyện giao cho Đại, Ngọc vào ngày 13/3/2024 để làm tin, không có dấu hiệu tội phạm, không liên quan hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án. Ngày 25/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã trả lại Giang chiếc xe trên là phù hợp.
Ngoài ra ngày 27/3/2024, ông Trần Văn Đãi, sinh năm 1972 ở Nhiêu Hà, Đồi Ngô, Lục Nam, Bắc Giang là bố đẻ của Trần Văn Đại đến Công an huyện Tiên Du và tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra các tài liệu bao gồm:
- 01 (một) Đơn xác nhận sự việc xẩy ra đứng tên người viết là Trần Văn Đãi;
- 01 (một) Đơn xin trình bày/Bản cam kết đứng tên người viết là Hà Duy An;
- 01 (một) Bản cam kết đứng tên người viết là Lê Khắc Quân;
- 01 (một) Bản cam kết đứng tên người viết là Lô Văn Phú
Các tài liệu trên đều có cùng nội dung: “Liên quan sự việc xảy ra ở Văn phòng tuyển dụng lao động, anh Nguyễn Văn Ngọc cùng với anh Đại không có hành vi vi phạm pháp luật gì với chúng cháu; không cho vay nặng lãi; không có hành vi giữ người trái pháp luật; không gây rối trật tự công cộng…; những việc vi phạm này anh Đại không làm”.
Quá trình điều tra xác định: Sau khi được Cơ quan điều tra thông báo việc Trần Văn Đại đã bị khởi tố về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, ngày 25/3/2024, ông Trần Văn Đãi đã tự tìm, gặp Quân, An, Phú ở phòng trọ tại Đồng Xép, Hoàn Sơn, Tiên Du, Bắc Ninh. Khi đến nơi, ông Đãi gặp Quân, An, Phú đang ở cùng với chị Nguyễn Thị Thúy, sinh năm 1991 ở TDP Đình Tảo Địch, phường Tân Phú, thành phố Phổ Yên, Thái Nguyên (là cộng tác viên tuyển dụng lao động của văn phòng ĐHT với Đại, Ngọc trước đó). Qua trò chuyện, Quân, An, Phú đã kể lại nội dung sự việc xảy ra ngày 20/3/2024 như đã trình bày với Cơ quan Cảnh sát điều tra cho ông Đãi nghe. Ông Đãi xin lỗi Quân, An, Phú và nhờ Quân, An, Phú xin giảm nhẹ TNHS cho Đại. Quân, An, Phú nghe vậy thì mỗi người tự nguyện viết 01 Đơn xin tường trình/Bản cam kết đều có cùng nội dung: “Liên quan sự việc xảy ra ở Văn phòng tuyển dụng lao động, anh Nguyễn Văn Ngọc cùng với anh Đại không có hành vi vi phạm pháp luật gì với chúng cháu; không cho vay nặng lãi; không có hành vi giữ người trái pháp luật; không gây rối trật tự công cộng…; những việc vi phạm này anh Đại không làm”. Sau khi viết xong, Quân, An, Phú tự ký vào đơn của mình và đưa cho ông Đãi. Ông Đãi cũng tự viết 01 Đơn xin xác nhận sự việc xảy ra có cùng nội dung nêu trên và đưa cho An, Quân, Phú. Quân, An, Phú đọc lại đơn của ông Phú rồi ký vào Đơn xác nhận này. Chị Thuý có mặt cũng ký xác nhận. Thấy Quân, An, Phú gặp khó khăn về việc ăn, ở, sinh hoạt... nên ông Đãi đã hỗ trợ cho nhóm An, Quân, Phú số tiền 3.000.000 đồng. Quân, An, Phú thống nhất giao cho Phú giữ, sử dụng số tiền này do Quân, An không bị thiệt hại gì. Đến ngày 27/3/2024, ông Đãi đã đến Công an huyện Tiên Du tự nguyện giao nộp toàn bộ các tài liệu như đã nêu ở trên.
Tại Cơ quan điều tra, Đại, Ngọc và Giang đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 141/CT-VKSTD ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, truy tố bị cáo Trần Văn Đại về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d, e, h khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm đ, e khoản 2, Điều 157 Bộ luật Hình sự; Truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Ngọc và Hà Hoàng Giang về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d, e khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm đ, e khoản 2, Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Quá trình xét hỏi tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Hương, ông Chung, ông Đãi, bà Xiêm trình bày: ông bà đã tự nguyện bồi thường cho Quân, An, Phú tiền giúp các bị cáo đến nay ông bà không có ý kiến yêu cầu gì.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đại, Nguyễn Văn Ngọc và Hà Hoàng Giang phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Giữ người trái pháp luật”.
Căn cứ điểm d, e, h khoản 2 Điều 168; điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; điểm o, khoản 1, Điều 52; Điều 17, 38, 54, 55, 58 BLHS.
Xử phạt: Trần Văn Đại từ 05 năm 02 tháng tù đến 05 năm 04 tháng tù, về tội “Cướp tài sản” và từ 02 năm đến 02 năm 02 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu chung cho 2 tội là từ 07 năm 02 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.
Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; Điều 17, 38, 54, 55, 58 BLHS (Điều 90, 91, Khoản 1 Điều 101 BLHS đối vưới bị cáo Hà Hoàng Giang).
Xử phạt: Nguyễn Văn Ngọc từ 05 năm đến 05 năm 02 tháng tù, về tội “Cướp tài sản” và từ 02 năm đến 02 năm 02 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu chung cho 2 tội là từ 07 năm đến 07 năm 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.
Hà Hoàng Giang từ 03 năm 08 tháng đến 03 năm 10 tháng tù, về tội “Cướp tài sản” và từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu chung cho 2 tội là từ 05 năm 02 tháng đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án (Bị cáo được trừ thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến ngày 20/7/2024).
* Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết.
*Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài 01 m;
- 01 (một) thanh kim loại hình hộp dài 51 cm;
- 01 (một) con dao bằng kim loại dài 34,5 cm, chuôi bằng gỗ màu vàng, bản dao chỗ rộng nhất là 5,5cm.
Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr (độ theo kiểu dáng Iphone 12) , màu vàng.
- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite màu vàng.
Lưu hồ sơ 01 cuốn sổ các bị cáo ghi số tiền các bị hại phải nhận nợ.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Trong phần tranh luận:
Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt;
Các Bị cáo nhận thấy bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.
Những người đại diện cho các bị cáo: không tranh luận gì về tội danh, mức hình phạt, thấy HĐXX là đúng người, đúng tội đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xin HĐXX cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng.
Người bào chữa cho bị cáo Ngọc trình bày bà Thoan trình bày: Nhất trí bản luận tội đại diện VKS, không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị HĐXX xem xét thêm tình tiết quy định tại khoản 2 là do có một phần lỗi của bị hại, mức hình phạt như vậy là nặng, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Người bào chữa cho bị cáo Giang gửi bà bài chữa trình bày: Nhất trí bản luận tội đại diện VKS, không tranh luận gì, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Không có ý kiến, yêu cầu gì, không tham gia tranh luận gì.
Đại diện VKS đối đáp: người bào chữa đề nghị áp dụng thêm tình tiết là do có 1 phần lỗi của bị hại do bỏ đi và không trả tiền cho các bị cáo nên xảy ra việc vi phạm hình sự của bị cáo thì thấy việc ứng vay mượn tiền không trả là quan hệ dân sự, không phải vì lỗi dân sự không trả của bị hại mà các bị cáo vi phạm hình sự. Sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vai trò, cân đối hình phạt với các bị cáo khác vẫn giữ nguyên đề xuất như ban đầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Du, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các bị hại, đại diện bị hại, Những Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Lô Văn Khải và cháu Lô Văn Thắng, vắng mặt tại phiên toà ngày 06/12/2024 Tòa án hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa ngày hôm nay những người nêu trên vẫn vắng mặt, người bào chữa cho bị cáo Giang xin vắng mặt, người đại diện cho các bị hại những người liên quan chưa thành niên xin vắng mặt tuy nhiên đã có lời khai tại Cơ quan điều tra việc vắng mặt không ảnh hưởng tới việc xét xử vì vậy Hội đồng xét xử vắng mặt các bị hại, đại diện bị hại, người bào chữa theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản xác định hiện trường, biên bản dẫn giải, phù hợp với thời gian, địa điểm, lời khai những người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Từ khoảng hơn 12 giờ đến 17 giờ 15 phút ngày 20/3/2024, tại Văn phòng tuyển dụng lao động ĐTH có địa chỉ tại thôn Đồng Xép, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Trần Văn Đại, Nguyễn Văn Ngọc, Hà Hoàng Giang sinh ngày 14/9/2006, đã có hành vi nhốt, giữ và sử dụng 01 thanh kim loại hình trụ dài 01 m, 01 thanh kim loại hình hộp dài 51 cm, 01 con dao bằng kim loại dài 34,5 cm đánh, đe dọa để chiếm đoạt số tiền 12.290.000 đồng của Lê Khắc Quân sinh ngày 13/01/2009, Hà Duy An và Lô Văn Phú.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đại đã phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại các điểm d, e, h; khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm đ, e khoản 2, Điều 157 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn Ngọc và Hà Hoàng Giang phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d, e khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm đ, e khoản 2, Điều 157 Bộ luật Hình sự; như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo phạm nhiều tội nên cần tổng hợp hình phạt của nhiều tội trong cùng bản án theo quy định tại điều 55 BLHS.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền tự do thân thể của người khác và quyền sở hữu về tài sản hợp pháp công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải đưa các bị cáo ra xét xử kịp thời và có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét vai trò, vị trí của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không câu kết chặt chẽ, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, không có sự phân công, phân nhiệm vụ rõ ràng. Đối với hành vi Cướp tài sản, bị cáo Đại là người khởi sướng và dùng thanh sắt hộp, con dao dài 34,5 cm để trực tiếp đe dọa và xúi giục Giang là dưới 18 tuổi phạm tội do đó vai trò của bị cáo Đại là cao nhất, sau đó là là Ngọc tiếp nhận ý chí, cùng thực hiện hành vi phạm tội, giúp sức tích cực cho bị cáo Đại, Ngọc chửi bới và dùng thanh sắt hộp gõ vào chân của bị hại để gây sức ép và cuối cùng là bị cáo Giang nhận sự chỉ đạo từ Đại và Ngọc để làm việc cũng như thực hiện hành vi phạm tội nên vai trò của Giang là thấp hơn. Đối với hành vi bắt giữ người trái pháp luật các bị cáo cùng nhau thực hiện vai trò ngang nhau.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy: Các bị cáo Ngọc và Giang là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự lần đầu phạm tội, tuy nhiên lại phạm tội rất nghiêm trọng.
Bị cáo Đại là người có nhân thân xấu ngày 30/7/2021 bị Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt Đại 04 năm 6 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d, khoản 3, điều 134 BLHS, phạm tội rất nghiêm trọng, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2023 đến nay chưa được xoá án tích, bị cáo lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm theo điểm h, khoản 2, điều 168 BLHS, trong lần phạm tội này của bị cáo còn có đồng phạm là bị cáo Giang là dưới 18 tuổi phạm tội do có sự tác động của bị cáo dẫn đến hành vi phạm tội của Giang nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o, khoản 1, điều 52 BLHS.
Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tác động gia đình bồi thường cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, bị cáo Đại gia đình có công với cách mạng: có ông nội là ông Trần Văn Đài là liệt sỹ, bà nội Trần Thị Đèo tham gia kháng chiến được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, Huy chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ; bị cáo có 01 con nhỏ, vợ chết; bị cáo Ngọc có bố đẻ tham gia kháng chiến được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, gia đình vợ có người công với cách mạng, thờ cúng liệt sỹ; bị cáo Giang có ông nội là ông Hà Văn Lục tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, bị cáo trong đợt xảy ra cơn bão số 3 năm 2024 tham gia cứu trợ vùng bão bị cô lập được Hội chữ thập đỏ Yên Sơn, Tuyên Quang gửi Thư cảm ơn nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo Giang phạm tội dưới 18 tuổi, bị cáo còn trẻ, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ nên cần áp dụng các quy định tại chương XII BLHS khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là phù hợp. Khi quyết định hình phạt cần áp dụng mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định theo khoản 1, Điều 101 BLHS.
Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du là phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, hành vi nguy hiểm nên cần thiết phải xử các bị cáo một mức án tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung, giúp các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật.
Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo không mang tính tổ chức, chỉ là bột phát, không gây thương tích gì cho các bị hại, tài sản chiếm đoạt rất nhỏ, các bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, đến nay không ai có ý kiến gì, các bị hại và những người liên quan đều xin giảm nhẹ và miễn TNHS cho các bị cáo. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 điều 51 BLHS nên áp dụng khoản 1, điều 54 BLHS cho các bị cáo được hưởng dưới khung hình phạt của tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 2, điều 168 BLHS và hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2, điều 157 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lẽ ra ngoài hình phạt chính cần phạt bổ sung một khoản tiền đối với bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật; Tuy nhiên các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định chỉ đủ nuôi sống bản thân, không có tài sản riêng gì, vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo như lời đề nghị của VKS là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự:
Chị Lê Thị Hương (là mẹ Giang) và chị Nguyễn Thị Xiêm (là vợ Ngọc) đã tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần, chi phí đi lại... cho Lê Khắc Quân 4.000.000 đồng, Hà Duy An 3.000.000 đồng. Quân và An đã nhận đủ số tiền, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì khác về dân sự, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo.
Ông Trần Văn Đãi (bố đẻ Đại), anh Hà Văn Chung (là bố đẻ Giang) và chị Xiêm đã tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần, chi phí đi lại... cho Lô Văn Phú 6.000.000 đồng. Phú đã nhận đủ tiền, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì khác về dân sự, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo.
Chị Xiêm đã tự nguyện bồi thường cho anh Lô Văn Khải số tiền 800.000 đồng. Anh Khải đã nhận đủ số tiền này và không yêu cầu Ngọc phải bồi thường gì về dân sự.
Quá trình điều tra anh Lô Văn Thắng đã nhận lại tiền, không yêu cầu ai phải trả lại cho Thắng thêm khoản tiền gì khác; không yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự.
Các ông bà Đãi, Xiêm, Hương, Chung được các bị cáo tác động, tự nguyện bồi thường thay cho Đại, Ngọc, Giang, không yêu cầu các bị cáo phải trả lại mình những khoản tiền này nên HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài 01 m, 01 (một) thanh kim loại hình hộp dài 51 cm, 01 (một) con dao bằng kim loại dài 34,5 cm, chuôi bằng gỗ màu vàng, bản dao chỗ rộng nhất là 5,5cm là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr, màu vàng, dung lượng 64GB (được độ theo kiểu dang Iphone 12) là điện thoại bị cáo Giang đưa cho bị hại để hỏi người vay tiền nhằm chiếm đoạt tài sản nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite, màu vàng là điện thoại của Đại sử dụng liên lạc với Giang và các bị hại nhằm thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 (một) quyển sổ viết tay các bị cáo viết để bắt các bị hại nhận nợ là vật chứng của vụ án nên tiếp tục lưu vào trong hồ sơ vụ án.
Liên quan trong vụ án này:
- Đối với việc bị cáo Hà Hoàng Giang trình bày bị Trần Văn Đại, Nguyễn Văn Ngọc giữ 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Wave, màu xanh xám, BKS 12K7-5740. Kết quả điều tra xác định: Việc Giang giao xe cho Đại, Ngọc giữ làm tin là hoàn toàn tự nguyện; không có dấu hiệu của tội phạm chiếm đoạt tài sản. Sự việc chỉ là thỏa thuận dân sự giữa hai bên. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du không xử lý hình sự đối với Đại, Ngọc là phù hợp quy định của pháp luật.
- Đối với Lê Khắc Quân, Hà Duy An, Lô Văn Phú là người bị hại trong vụ án, có hành vi viết Đơn xin tường trình/Bản cam kết (mỗi người viết 01 bản) với nội dung “Đại, Ngọc không vi phạm pháp luật...” là sai sự thật của vụ án. Quân, An, Phú đã đưa các tài liệu này cho ông Trần Văn Đãi để cung cấp cho cơ quan điều tra. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Quân, An, Phú đều khai báo với cơ quan điều tra đúng nội dung sự việc xảy ra bao gồm cả việc bản thân tự viết Đơn xin tường trình/Bản cam kết có nội dung sai sự thật như nêu trên. Việc Quân, An, Phú viết và cung cấp Đơn xin tường trình/Bản cam kết có nội dung sai sự thật như nêu trên chưa gây cản trở, khó khăn gì cho quá trình điều tra vụ án. Bản thân Quân, An, Phú là bị hại trong vụ án cùng trình bày mục đích viết, cung cấp Đơn xin tường trình/Bản cam kết chỉ mong muốn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; không nhằm gây cản trở, khó khăn cho quá trình điều tra vụ án. Do đó không đủ căn cứ để xem xét xử lý về hành vi nêu trên đối với Quân, An, Phú. Cơ quan điều tra đã tiến hành giáo dục, nhắc nhở đối với Quân, An, Phú là phù hợp.
- Đối với ông Trần Văn Đãi có hành vi cung cấp các tài liệu Đơn xin tường trình/Bản cam kết, Đơn xin xác nhận sự việc xảy ra với nội dung sai sự thật của vụ án trong quá trình điều tra vụ án. Tuy nhiên, ông Đãi không mua chuộc hay cưỡng ép Quân, An, Phú viết Đơn xin tường trình/Bản cam kết. Bản thân ông Đãi tự viết Đơn xin xác nhận sự việc xảy ra có nội dung sai sự thật là dựa theo nội dung đơn của Quân, An, Phú tự viết trước đó. Khi làm việc với cơ quan điều tra ông Đãi khai báo đúng về nội dung, nguồn các tài liệu mà bản thân cung cấp; không khai báo gian dối, không cung cấp nội dung gì khác sai sự thật liên quan trong vụ án. Mục đích bản thân viết, cung cấp các đơn, tài liệu nêu trên chỉ mong muốn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, không nhằm gây cản trở, khó khăn cho quá trình điều tra vụ án. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du không xem xét xử lý mà chỉ giáo dục, nhắc nhở đối với ông Đãi về hành vi này là phù hợp.
- Đối với số tiền 1.550.000 đồng mà Đại, Ngọc trình bày đã cùng nhau bỏ ra để lo chi phí đi lại, sinh hoạt... và số tiền 680.000 đồng mà Đại trả tiền taxi cho nhóm Quân, An, Phú vào ngày 20/3/2024. Đại, Ngọc đều không yêu cầu Quân, An, Phú hay ai khác phải trả lại cho Đại, Ngọc số tiền này nên không xem xét.
- Đối với số tiền 5.550.000 đồng mà Đại, Ngọc trình bày đã cùng nhau bỏ ra để lo chi phí sinh hoạt, xin việc... cho Giang và những người có tên Xuân, Minh, Hiếu, Quân, Hải. Đại, Ngọc đều không yêu cầu Giang hay ai khác phải trả lại cho Đại, Ngọc số tiền này nên không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đại, Nguyễn Văn Ngọc và Hà Hoàng Giang phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Giữ người trái pháp luật”.
Căn cứ điểm d, e, h khoản 2 Điều 168; điểm đ, e khoản 2, Điều 157; điểm b, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; điểm o, khoản 1, Điều 52; Điều 17, 38, 54, 55, 58 BLHS.
Xử phạt: Trần Văn Đại 5 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 02 năm tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu chung cho 2 tội là 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.
Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; Điều 17, 38, 54, 55, 58 BLHS.
Xử phạt: Nguyễn Văn Ngọc 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 02 năm tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu chung cho 2 tội là 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.
Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; Điều 17, 38, 54, 55, 58, 90, 91, 101 BLHS.
Xử phạt: Hà Hoàng Giang 3 năm 08 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu chung cho 2 tội là 05 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án (Bị cáo được trừ thời gian bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến ngày 20/7/2024).
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Quyết định tạm giam các bị cáo Trần Văn Đại và Nguyễn Văn Ngọc mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS.
+Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài 01 m;
- 01 (một) thanh kim loại hình hộp dài 51 cm;
- 01 (một) con dao bằng kim loại dài 34,5 cm, chuôi bằng gỗ màu vàng, bản dao chỗ rộng nhất là 5,5cm.
+Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xr (độ theo kiểu dáng Iphone 12) , màu vàng.
- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite màu vàng.
(Theo Biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Du và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ngày 14/11/2024).
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 quyển sổ viết tay màu đen.
3. Về án phí: Căn cứ các Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, Người đại diện hợp pháp cho bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Người đại diện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Bắc Ninh; - VKS, CA,THADS huyện Tiên Du; - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác; -Trại giam; - Lưu hồ sơ, văn phòng. - Lưu theo hồ sơ vụ án 01 quyển sổ viết tay màu đen. 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. hình sự. cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. liên quan, Người đại diện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Thị Xuân Trịnh Thanh Bình | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Mạnh 3. Về án phí: Căn cứ các Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Các bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng Bị hại, Người đại diện hợp pháp cho bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Mạnh |