- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Hồng Luận phạm tội "Vận chuyển hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Thị Hồng L
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2024/HS-PT Ngày: 03-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước thành
phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Bùi Văn Bình
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Nhân
Ông Trần Văn Nhum
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên Tòa: Ông Hà Văn Chuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 26/2024/HSPT ngày 18 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Lê Thị Hồng L
Do có kháng cáo của bị cáo Lê Thị Hồng L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Thị Hồng L, sinh năm 1971 tại Quảng Bình; giới tính: Nữ; Nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; họ và tên cha: Lê L1, sinh năm 1943(đã chết); họ và tên mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1949 (đã chết); Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1999; chồng: Không có; bị cáo có 04 chị em, lớn sinh năm 1969, nhỏ sinh năm 1984; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 12/12/2014 bị UBND tỉnh B xử phạt 85 triệu đồng về hành vi kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu tại Quyết định số 2694/QĐ-XPVPHC ngày 12/12/2014. Bị cáo được tại ngoại cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn sử dụng pháo vào dịp tết nguyên đán Giáp Thìn năm 2024 nên Lê Thị Hồng L này sinh ý định đi mua pháo nổ về cất giấu, sử dụng trong dịp tết. Khoảng 15 giờ ngày 27/12/2023, Lê Thị Hồng L điều khiển xe mô tô hiệu SYM, loại EZ 110 màu đen, biển số 93G1-168.82 đi từ nhà ở ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước đến khu vực vành đai biên giới Việt Nam -Campuchia thuộc ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Phước. Tại đây L2 mua 05 hộp pháo hoa loại 49 ống của người đàn ông người Campuchia (không rõ lai lịch) với giá 1.700.000đ. Sau khi nhận pháo L cho 05 hộp pháo hoa vào 01 túi nilon màu đen rồi bỏ vào trong cốp xe mô tô rồi điều khiển xe mô tô về nhà để cất giấu. Trên đường về thị L bị Công an huyện B kiểm tra bắt giữ, thu giữ 01 xe mô tô loại SYM, ES 110 màu đen, biến số 93G1-168.82; 01 túi nilon màu đen; 05 khối hình hộp chữ nhật có kích thước mỗi hộp 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, có ghi chữ 49 tổng khối lượng 8,7kg.
Công an huyện B đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng để trưng cầu giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 1309/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh B xác định: 05 khối hình hộp chữ nhật có kịch thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, có ghi chữ GHONG KOL C0850 49”, được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ) có chứa thuốc pháo, khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra anh sáng nhiều màu sắc, tổng khối lượng 8,7kg.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước đã tuyên xử:
Tuyên bố Lê Thị Hồng L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”,
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng L 06(sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 02/02/2024 bị cáo Lê Thị Hồng L kháng cáo xin được hưởng án treo
Tại phiên tòa:
Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Thị Hồng L, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thị Hồng L được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm nhận định và bị cáo công nhận Tòa án cấp sơ thẩm xử tội bị cáo là đúng với hành vi của bị cáo đã gây ra, không bị oan. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng những tài liệu, chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ vụ án và được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại khoản 1 điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Thị Hồng L thấy rằng:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, bản thân bị cáo hiện đang bị bệnh. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đã được Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo. Vào năm 2014 bị cáo từng bị UBND tỉnh B xử phạt 85 triệu đồng về hành vi kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu tại Quyết định số 2694/QĐ-XPVPHC ngày 12/12/2014 bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt chưa nộp tiền phạt theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B, tuy đã hết thời hiệu thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì bị cáo không bị xem là có tiền sự nhưng xem đây là nhân thân xấu, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật chưa cao, theo quy định Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2008 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác so với cấp sơ thẩm, do đó kháng cáo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận chấp nhận.
. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nên bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Thị Hồng L
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hồng L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Thị Hồng L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; (1) - PV 06 CA tỉnh Bình Phước; (1) - TAND, VKSND huyện Bù Đốp;(4) - Chi cục THADS huyện Bù Đốp;(1) - Công an huyện Bù Đốp;(1) - CQĐT Công an huyện Bù Đốp (1) - Cơ quan THAHS huyện Bù Đốp (1) - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;(1) - Bị cáo;(1) - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Lưu: hồ sơ vụ án (2); Tổ HCTP.(1) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Bình |