- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thị A - Hứa Minh H ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11-4-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh H
2. Ông Nguyễn Thành Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Mỹ Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 199/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Cao Thị A, sinh năm 1980; thường trú: ấp K, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: ấp S, xã T1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Hứa Minh H, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp K, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 3 năm 2023, nguyên đơn chị Cao Thị A trình bày:
Vào năm 2006, chị A và anh H tự nguyện kết hôn, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 14-02-2006. Sau khi kết hôn, chị A và anh H sống chung hạnh phúc một thời gian thì giữa chị A và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị A và anh H không còn sống chung từ cuối năm 2021 đến nay. Trong thời gian hôn nhân, chị A và anh H có 02 (hai) con chung tên Hứa Minh Q, sinh ngày 31-10-2007 và Hứa Thị Như Y, sinh ngày 12-10-2009. Hiện tại các con chung đang sống cùng anh H. Về tài sản chung và nợ chung không có.
Chị Cao Thị A yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị A được ly hôn với anh Hứa Minh H.
- Về con chung: Chị Cao Thị A đồng ý giao cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) con chung tên Hứa Minh Q, sinh ngày 31-10-2007 và Hứa Thị Như Y, sinh ngày 12-10-2009 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Chị A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Biên bản ghi lời khai ngày 25-3-2024, bị đơn anh Hứa Minh H trình bày: Anh H thống nhất với trình bày của chị A về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị A thì anh H không đồng ý ly hôn với chị A vì anh H vẫn còn thương chị A. Về con chung, nếu phải ly hôn thì anh H thống nhất nuôi dưỡng các con chung tên Hứa Minh Q, sinh ngày 31-10-2007 và Hứa Thị Như Y, sinh ngày 12-10-2009 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi và không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung anh H thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn anh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên các đương sự không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành nghiêm theo giấy triệu của Tòa án.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên xử chị A được ly hôn với anh H; về con chung giao các con chung tên Hứa Minh Q, sinh ngày 31-10-2007 và Hứa Thị Như Y, sinh ngày 12-10-2009 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi; chị A không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí nguyên đơn chị A phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị A khởi kiện anh H để yêu cầu ly hôn và được quyền nuôi con chung nhưng không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã đúng theo quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận. Theo khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Như vậy, chị A có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh H theo quy định pháp luật.
Xét yêu cầu ly hôn của chị A, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị A và anh H thống nhất trình bày sau khi kết hôn, chị A và anh H sống chung hạnh phúc được một thời gian thì giữa chị A và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, nên chị A và anh H không còn sống chung. Mặc dù, anh H có ý kiến không đồng ý ly hôn, nhưng kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập chị A và anh H để hòa giải, động viên hàn gắn tình cảm, đoàn tụ với nhau, nhưng anh H không đến tham dự phiên hòa giải, chị A giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Xét thấy, hôn nhân là quan hệ vợ chồng phải do cả hai bên thật sự tự nguyện mong muốn kết hôn và sống chung với nhau, để cùng quan tâm chăm sóc cho nhau, nhưng hiện tại chị A và anh H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến không còn sống chung; giữa chị A và anh H đã có một trong hai bên không còn tự nguyện sống chung và cả hai cũng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau nên cuộc sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc. Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị A và anh H đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do vậy, yêu cầu ly hôn của chị A là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung, chị A và anh H có hai người con chung tên Hứa Minh Q, sinh ngày 31-10-2007 và Hứa Thị Như Y, sinh ngày 12-10-2009, hiện tại đang sống cùng anh H. Khi ly hôn, chị A đồng ý giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Theo khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù chị A và anh H không trực tiếp thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nhưng theo lời khai anh H trình bày thống nhất nuôi dưỡng các con chung tên Hứa Minh Q, sinh ngày 31-10-2007 và Hứa Thị Như Y, sinh ngày 12-10-2009 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi, đồng thời, các con chung đang sống cùng với anh H và có nguyện vọng sống cùng anh H. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của các con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị A giao các con chung tên Hứa Minh Q, sinh ngày 31-10-2007 và Hứa Thị Như Y, sinh ngày 12-10-2009 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi; chị A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng, theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Xét thấy, kể từ khi chị A và anh H không còn sống chung với nhau, các con chung sống cùng với anh H vẫn đảm bảo các quyền lợi về mọi mặt. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh H cũng trình bày ý kiến không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con chung. Từ đó, có căn cứ cho rằng anh H có đầy đủ các điều kiện kinh tế chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo các quyền lợi về mọi mặt của con chung nên Hội đồng xét xử quyết định chị A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị A và anh H thống nhất trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm, chị A là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị A được ly hôn với anh Hứa Minh H.
2. Về con chung: Giao cho anh Hứa Minh H trực tiếp nuôi dưỡng các con chung tên Hứa Minh Q, sinh ngày 31-10-2007 và Hứa Thị Như Y, sinh ngày 12-10-2009 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi.
Chị Cao Thị A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Cao Thị A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Cao Thị A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000438 ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Chị Cao Thị A đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thạnh Trị; - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - UBND xã T1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Luân (Đã ký) |