- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) thụ lý số 42/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/3/2024 về tranh chấp: “Kiện xin ly hôn, yêu cầu giải quyết về con chu…"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trương Quang P, xử cho anh P được ly hôn với bị đơn chị Phan Thị O.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 06/8/2024. “V/v: Ly hôn giữa anh P và chị O” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG,TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thi.
2. Bà Hoàng Thị Quế.
-Thư ký phiên toà: Ông Phan Đình Mão - Thư ký Toà án nhân dân (TAND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thuỳ - Kiểm sát viên (KSV).
Trong ngày 06/8/2024, tại trụ sở TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) thụ lý số 42/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/3/2024 về tranh chấp: “Kiện xin ly hôn, yêu cầu giải quyết về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trương Quang P, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Làng S, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
- Bị đơn: Chị Phan Thị O, sinh năm 1988;
Địa chỉ: TDP I, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Anh P vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, chị O lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Quang P và chị Phan Thị O qua thời gian quen biết, tìm hiểu đã tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai vào ngày 16/10/2018.
Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh P trình bày là do vợ chồng không hợp tính tình nhau, khác nhau về quan điểm sống, khác nhau trong suy nghĩ, trong cách sống của mỗi người, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng, nặng nề, không hạnh phúc; vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, chửi bới xúc phạm nhau dẫn đến không tôn trọng nhau. Sau khi sinh con chung là cháu Trương Ngọc Gia H được 20 ngày tuổi thì chị O đã dọn đồ và đưa cháu H về huyện K sinh sống cho đến nay. Anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên anh P đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị O được ly hôn với nhau.
2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trương Ngọc Gia H , sinh ngày 12/6/2019. Sau khi ly hôn, anh P đồng ý giao cháu H cho chị O tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, có khả năng lao động, anh sẽ cấp dưỡng nuôi cháu H với mức 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H trưởng thành, có khả năng lao động.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Phan Thị O: Quá trình giải quyết vụ án, chị O luôn vắng mặt trong các lần Tòa án triệu tập và không tham gia phiên hòa giải do Tòa án tổ chức. Tại phiên tòa lần thứ nhất mở vào ngày 17/7/2024, mặc dù đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đương sự tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng chị O đã vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, chị lại tiếp tục vắng mặt nên Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ vào quy định tại các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn.
Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm: 01 Trích lục kết hôn mang tên Phan Thị O và Trương Quang P (bản sao), 01 Căn cước công dân mang tên Trương Quang P (bản photo) và 01 Giấy khai sinh mang tên Trương Ngọc Gia H (bản sao).
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Anh Trương Quang P và chị Phan Thị O tự nguyện tiến tới hôn nhân, có ĐKKH tại UBND xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai vào ngày 16/10/2018; anh chị có 01 con chung tên Trương Ngọc Gia H, sinh ngày 12/6/2019. Điều này được thể hiện qua chứng cứ do anh P giao nộp là Trích lục kết hôn mang tên Phan Thị O và Trương Quang P (bản sao), Căn cước công dân mang tên Trương Quang P (bản photo) và Giấy khai sinh mang tên Trương Ngọc Gia H (bản sao).
Tại phiên tòa, KSV phát biểu quan điểm của VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về việc giải quyết vụ án như sau:
Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 35, 39, 93, 94, 143, 144, 147, 227, 228, 238 và 266 của BLTTDS năm 2015; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật HN&GĐ năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trương Quang P được ly hôn với chị Phan Thị O.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Trương Ngọc Gia H, sinh ngày 12/6/2019 cho chị O tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu H trưởng thành và có khả năng lao động; anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H với mức 1.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 9/2024 cho đến khi cháu H trưởng thành và có khả năng lao động.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các bên không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết; vì vậy, đề nghị HĐXX không xem xét.
-Về án phí: Nguyên đơn anh Trương Quang P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm (LHST) và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng dân sự: Anh Trương Quang P có đơn khởi kiện đề nghị TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa anh và chị Phan Thị O. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Quang P và chị Phan Thị O tự nguyện tiến tới hôn nhân, có ĐKKH tại UBND xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai vào ngày 16/10/2018 nên quan hệ hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận.
Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh P trình bày là do vợ chồng không hợp tính tình nhau, khác nhau về quan điểm sống, khác nhau trong suy nghĩ, trong cách sống của mỗi người, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng, nặng nề, không hạnh phúc; vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, chửi bới xúc phạm nhau dẫn đến không tôn trọng nhau. Sau khi sinh con chung là cháu Trương Ngọc Gia H được 20 ngày tuổi thì chị O đã dọn đồ và đưa cháu H về huyện K sinh sống cho đến nay. Anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên anh P đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị O được ly hôn với nhau. Về phía bị đơn chị O đã không hợp tác làm việc, luôn vắng mặt trong các lần Tòa án triệu tập và không tham gia phiên hòa giải do Tòa án tổ chức nên việc hòa giải cho anh chị đoàn tụ gia đình không thực hiện được. Vì vậy, xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh P và chị O đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ quy định tại các Điều 51 và 56 của Luật HN&GĐ năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh P, xử cho anh P được ly hôn với chị O.
Về con chung: Anh Trương Quang P và chị Phan Thị O có 01 con chung là cháu Trương Ngọc Gia H, sinh ngày 12/6/2019. Sau khi ly hôn, anh P đề nghị giao cháu H cho chị O nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, có khả năng lao động; anh sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.000.000 đồng/tháng. Xét đề nghị này của anh P là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế hiện nay của anh chị khi cháu H đang ở với chị O, cháu còn nhỏ và là con gái nên cần sự quan tâm, chăm sóc hàng ngày của người mẹ, trong khi chị O lại chưa có ý kiến trình bày về việc giải quyết nuôi và cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn. Vì vậy, HĐXX chấp nhận đề nghị của anh P, giao con chung là cháu Trương Ngọc Gia H, sinh ngày 12/6/2019 cho chị O tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu H trưởng thành, có khả năng lao động; anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H với mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2024 cho đến khi cháu trưởng thành, có khả năng lao động.
Về tài sản chung và nợ chung: Theo anh P trình bày thì giữa anh và chị O không có tài sản chung và nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết; vì vậy, HĐXX không xem xét. Đối với chị O, do chị chưa trình bày quan điểm về tài sản chung và nợ chung nên nếu giữa chị và anh P xảy ra tranh chấp với nhau về nội dung này thì chị có quyền khởi kiện anh P trong vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Anh P phải chịu theo án phí LHST là 300.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm (DSST) phần cấp dưỡng nuôi con định kỳ là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 91, 93, 94, 95, 108, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của BLTTDS năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật HN&GĐ năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trương Quang P, xử cho anh P được ly hôn với bị đơn chị Phan Thị O.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Ngọc Gia H, sinh ngày 12/6/2019 cho chị O tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, có khả năng lao động; anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H với mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2024 cho đến khi cháu H trưởng thành, có khả năng lao động.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất được quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Người không trực tiếp nuôi dưỡng con vẫn có quyền đến thăm nom con, người trực tiếp nuôi con không được cản trở nếu họ không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hai đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Anh Trương Quang P phải chịu 300.000 đồng án phí LHST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0002083 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; anh P đã nộp đủ án phí LHST.
Anh P phải chịu 300.000 đồng án phí DSST phần cấp dưỡng nuôi con định kỳ.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, hai đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND Kbang; -Chi cục THADS Kbang; -Các đương sự; -UBND cấp xã nơi ĐKKH; -Lưu HSVA,VPTA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Nguyên |