- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn NGUYỄN THỊ MAI VUI- NGUYỄN TRỌNG KHUÊ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mai V được ly hôn với anh Nguyễn Trọng K.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ TỈNH HÀ TĨNH ơ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2024 V/v “Xin ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Trọng Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và ông Trịnh Xuân Minh.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Huơng Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Không.
Ngày 29/11/2024, tại Hội trường xét xử số 1, Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2024 về việc “Xin ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/11/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mai V, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh H (có mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng K, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện H, tỉnh H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai V bày:
Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị Mai V và anh Nguyễn Trọng K đăng ký kết hôn vào ngày 04/06/2018, tại UBND xã G, huyện H, tỉnh H. Trên cở sở tự do tìm hiểu, tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, lí do mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu tính nhau, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không có yêu thương giúp đỡ nhau, sống không có hạnh phúc. Mặc dù chị V đã cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân nhưng không thế chung sống với nhau được. Vợ chồng sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay. Chị V cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được tình nghĩa vợ chồng không còn. Vì vậy chị V làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Trọng K.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung; Nguyễn Trọng Hoàng D, sinh ngày 12/11/2019; chị V có nguyện vọng nhận trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Trọng K trình bày: Anh K thừa nhận về thời gian, địa điểm kết hôn, quả trình chung sống đúng như lời trình bày của chị V, vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn trong cuộc sống, bản thân mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng chị V nhất quyết làm đơn yêu cầu ly hôn, bản thân tôi là người Công giáo nên tôi đề nghị Toà án giải quyết cho chị V đơn phương ly hôn.
Về con chung: Bản thân cũng có nguyện vọng nuôi con nhưng vì con từ nhỏ đến nay sống chung với chị V, hơn nữa con còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nên Tôi đồng ý nhường quyền nuôi con cho chị V. Tuy nhiên, chị V phải để tôi đi lại thăm nom, chăm sóc con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của vị đại diện VKSND huyện Hương Khê tham gia phiên tòa: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Mai V có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hương Khê giải quyết ly hôn, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Trọng K có địa chỉ cư trú thôn Thượng Hải, xã Gia Phố, huyện Hương Khê nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê.
Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Mai V và anh Nguyễn Trọng K kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện H, tỉnh H, theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh K là hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc mất tình cảm vợ chồng, sống không đem lại hạnh phúc cho nhau nên chị V và anh K sống ly thân nhau từ năm 2020 cho đến nay. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy suốt một thời gian dài vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Việc chị V làm đơn xin ly hôn anh K là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ, phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mai V và anh Nguyễn Trong K.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Trọng Hoàng D, sinh ngày 12/11/2019. Tại phiên hòa giải ngày 12/11/2024, chị V và anh K đồng ý thỏa thuận giao con chung Nguyễn Trọng Hoàng D cho chị V trực tiếp nuôi con cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị V không yêu cầu anh K cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy việc tự nguyên thỏa thuận giữa anh K và chị V là phù hợp, chị V đảm bảo đầy đủ điều kiện về mọi mặt để nuôi con. Vì vậy, HĐXX căn cứ vào Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nên giao con cho chị V nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Chị V không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. Anh K có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cấm theo quy định tại Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mai V nhận chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57; Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:
1. Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mai V được ly hôn với anh Nguyễn Trọng K.
2. Về quan hệ con chung: Chấp nhân sự thỏa thuận giao con Nguyễn Trọng Hoàng D, sinh ngày 12/11/2019 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị V không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Trọng K được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản và anh K không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mai V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, chị V đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0003929 ngày 30/09/20224 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê, nay không phải nộp nữa.
4.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Hương Khê; - Các đương sự; - UBND xã Gia Phố; - Chi cục THADS huyện Hương Khê; - Lưu hồ sơ +VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Trọng Hùng |