vanban.org

Bản án 26/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho bà Tạ Thị N được ly hôn với ông Phạm H.

Về con chung: Ông Phạm H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Phạm Văn Tuấn K, sinh ngày 10/11/2012. Bà Tạ Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Tạ Thị N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền ngăn cản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Tạ Thị N yêu cầu ly hôn với ông Phạm H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho bà Tạ Thị N được ly hôn với ông Phạm H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13-5-2024
V/v “Tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Ngọc Phi;

Ông Bùi Huy Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 345/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 13/2024/QĐST-HPT, ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Tạ Thị N, sinh năm 1985 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Phạm H, sinh năm: 1975 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc nguyên đơn bà Tạ Thị N trình bày: Bà Tạ Thị N và ông Phạm H yêu thương nhau rồi đi đến kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 18/03/2005 tại UBND xã C, thời gian đầu chung sống hòa thuận hạnh phúc như đến năm 2020 thì này sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau, không quan tâm, lo lắng cho nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài, không thể hàn gắn được và bà N, ông H đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay bà Tạ Thị N không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Tạ Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Tạ Thị N được ly hôn với ông Phạm H .

Về con chung: Bà Tạ Thị N và ông Phạm H có 02 người con chung là cháu Phạm Thị Mỹ L, sinh ngày 27/4/2006 và cháu Phạm Văn Tuấn K, sinh ngày 10/11/2012. Tại thời điểm Toà án mở phiên toà thì cháu L đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Bà N có nguyện vọng giao cháu K cho ông H được trực tiếp nuôi dưỡng và bà N không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tạ Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Phạm H đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập, thông báo đến Tòa án để tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng ông H vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải và không ghi nhận được ý kiến của ông H.

Kết quả thu thập chứng cứ: Theo kết quả xác minh tại địa phương, nơi sinh sống của bà N, ông H ghi nhận được nội dung, thời gian đầu bà N và ông H chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thấy ông H và bà N thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng thương xuyên cãi vã.

Theo biên bản ghi nhận ý kiến, nguyện vọng của con chung là cháu HYPERLINK \l "link"\o "<b>Họ và Tên:</b> Phạm Văn Tuấn"Phạm Văn Tuấn Kiệt thì ghi nhận được nguyện vọng của cháu K muốn sống chung với ông H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:

Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tố tụng nên làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Tạ Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Tạ Thị N và ông Phạm H có đăng ký kết hôn, nay bà N xin ly hôn nên đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Hiện bị đơn ông Phạm H đang cư trú tại xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Đức.

Bà Tạ Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến yêu cầu của mình trong các biên bản làm việc, bản khai tại Tòa án; ông Phạm H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với bà N và ông H.

Về quan hệ hôn nhân: Theo bà N trình bày thì bà N và ông H yêu thương nhau rồi đi đến cưới nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 18/03/2005 tại UBND xã C, thời gian đầu chung sống hòa thuận hạnh phúc như đến năm 2020 thì này sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau, không quan tâm, lo lắng cho nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài, không thể hàn gắn được và bà N, ông H đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay bà Tạ Thị N không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Tạ Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Tạ Thị N được ly hôn với ông Phạm H .

Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương ngày 19/3/2024 ghi nhận được nội dung sau: Thời gian đầu bà N và ông H chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thấy bà N và ông H nảy sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập các bên đến trụ sở Toà án nhằm để ghi nhận ý kiến và hoà giải, nhưng do ông H vắng mặt nên không thể ghi nhận ý kiến và hòa giải hàn gắn được.

Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và kết quả xác minh thu thập chứng cứ tại địa phương nhận thấy có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng của nguyên đơn và bị đơn là trầm trọng, cả hai đều không có tiếng nói chung, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông H.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:

Bà N và ông H có 02 người con chung là cháu Phạm Thị Mỹ L, sinh ngày 27/4/2006 và cháu Phạm Văn Tuấn K, sinh ngày 10/11/2012. Hiện nay cháu L đã trưởng thành, trên 18 tuổi. Bà N có nguyện vọng giao cháu K cho ông H được trực tiếp nuôi dưỡng và bà N không cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu K có nguyện vọng được sống chung với ông H.

Căn cứ vào ý kiến, nguyện vọng của nguyên đơn, người có quyền và lợi ích được bảo vệ và nhận thấy ông H có nơi ở ổn định, từ khi ông H, bà N sống ly thân thì cháu K sống chung với ông H và cháu vẫn phát triển ổn định về tâm sinh lý cũng như thể chất và tinh thần. Do đó để tránh sáo trộn môi trường sống và đảm bảo quyền lợi của con chung sau khi ly hôn nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho ông H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Vì bà N trình bày ý kiến là bà N không cấp dưỡng nuôi con chung, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án không ghi nhận được ý kiến của ông H về việc yêu cầu cấp dưỡng, vì vậy không có căn cứ để xem xét buộc bà N phải cấp dưỡng nuôi con, do đó căn cứ vào phần trình bày của bà N xác định bà N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tạ Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết, không ghi nhận được ý kiến của ông H về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung và nợ chung.

Về án phí: Bà Tạ Thị N phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Xử cho bà Tạ Thị N được ly hôn với ông Phạm H.

Về con chung: Ông Phạm H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Phạm Văn Tuấn K, sinh ngày 10/11/2012. Bà Tạ Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Tạ Thị N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.

Về án phí: Bà Tạ Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008830, ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà Tạ Thị N đã nộp xong án phí sơ thẩm.

Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13 tháng 5 năm 2024) các đương sự được quyền kháng cáo. Do bà N và ông H đều vắng mặt nên thời hạn này được tính từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết có quyền yêu cầu Toà án tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc.

Cỡ chữ