vanban.org

Bản án 26/2024/DSPT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 21/03/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Quan Văn Nh, về vi c đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án số 10/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Toà án nhân dân huy n Ch.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Toà án nhân dân huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang, như sau: Không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Quan Văn Nh về vi c công nhận 30.010 m2 (trong đó có di n tích đất tranh chấp khoảng 14.900 m2 theo đo đạc, thuộc thửa đất số 108, tờ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ông Quan Văn Nh - ông Quân Văn Th (Đã chết năm 2022); Bà Ma Thị M"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Quan Văn Nh, về vi c đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án số 10/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Toà án nhân dân huy n Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/DS-PT
Ngày 21/3/2024
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nam.

Các Thẩm phán: Ông Hồ Thanh Sơn, ông Ma Hồng Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Phong – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang: Bà Ma Thị Thắm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm c ng hai vụ án dân sự thụ lý số: 48/2023/TLPT - DS, ngày 13 tháng 11 năm 2023, về vi c “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST, ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2024/QĐ-PT, ngày 12 tháng 01 năm 2024; quyết định hoãn phiên toà số 26/2024/QĐ-PT, ngày 05 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Quan Văn Nh, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

- Người đại di n theo ủy quyền của nguyên đơn ông Quan Văn Nh: Ông Đàm Quốc C, ông Vũ Quang B1, ông Ngô Vi t Th - luật sư - Công ty Luật TNHH MTV Q. C - Đoàn luật sư tỉnh Tuyên Quang, địa chỉ: Khu dân cư Lý Thái Tổ, tổ 17, phường P, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

2. Bị đơn: Ông Quân Văn Th (Đã chết năm 2022); Bà Ma Thị M, sinh năm 1974; Cùng địa chỉ: Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Quân Văn Th: Bà Ma Thị M, sinh năm 1974; Anh Quân Văn K, sinh năm 1994; chị Quân Thị L, sinh năm 1998; cùng địa chỉ: Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

Người đại di n theo ủy quyền cho anh Quân Văn K và chị Quân Thị L: Bà Ma Thị M, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- UBND xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

- Bà Ma Thị N, sinh năm 1954, địa chỉ: Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

- Ông Ma Doãn V, sinh năm 1970, địa chỉ: Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

- Bà Hoàng Thị X, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

- Bà Ma Thị D, sinh năm 1976, địa chỉ: Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

- Anh Quân Văn K, sinh năm 1994; chị Quân Thị L, sinh năm 1998, cùng địa chỉ: Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

4. Người làm chứng:

- Bà Quan Th H, sinh năm 1936; - Bà Tri u Thị Ch, sinh năm 1947;

- Ông Quan Văn Tr; - Ông Quân Văn Gi, sinh năm 1962;

- Ông Ma Doãn Ngh, sinh năm 1967; - Bà Ma Thị K, sinh năm 1943;

- Bà Quan Thị Đ, sinh năm 1952; - Anh Ma Đình Ng, sinh năm 1978;

Cùng địa chỉ: Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Quan Văn Nh.

(Ông Quan Văn Nh và Luật Sư Đàm Quốc C có mặt tại phiên toà. Ông Ma Doãn V, bà Hoàng Thị X, bà Ma Thị M, UBND xã M có đơn xét xử vắng mặt. Bà Quan Th H, bà Tri u Thị Ch, ông Quan Văn Tr, ông Quân Văn Gi, ông Ma Doãn Ngh, bà Ma Thị K, bà Quan Thị Đ, bà Ma Thị D, anh Ma Đình Ng, LS B1, LS Th vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Quan Văn Nh và người đại diện theo ủy quyền của ông Nh trình bày:

Năm 1978 gia đình ng Quan Văn Nh khai phá di n tích tại khu vực Khuổi Khoé để trồng lúa nương tổng di n tích 30.010 m2 (trong đó có di n tích tranh chấp với ông Th nằm ở giữa di n tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đo đạc khoảng là 14.900 m2). Năm 1981 Nhà nước có chủ trương giao đất rừng cho dân để quản lý, năm 1982 gia đình ng có đơn xin mượn đất vườn rừng và đã được Nhà nước cấp sổ lâm bạ với di n tích 03 ha (30.000m2) quá trình gia đình ng xin mượn đất vườn rừng và được cấp sổ lâm bạ gia đình ng h ng có tranh chấp với ai, tại thời điểm đó cán bộ Hạt kiểm lâm và Uỷ ban đến đo đạc và giao thực địa không ai có ý kiến. Kể từ hi được cấp sổ Lâm bạ gia đình ng quản lý sử dụng liên tục lâu dài tính đến nay đã hơn 40 năm đã hình thành nhiều cây cối, tài sản trên đất cụ thể như cây cọ, cây xoan và bảo quản các cây lấy gỗ tự nhiên khác.

Năm 2006 hi Đoàn đo đạc của UBND huy n Ch. H đã xuống thực địa, rà soát đất rừng sản xuất của các hộ trên cùng địa phương để lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình ng đã đi cùng đoàn đo đạc để chỉ thực địa di n tích đất đang sử dụng và làm thủ tục kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với di n tích thực địa 30.010,0 m2 theo di n tích đất đã được cấp sổ lâm bạ năm 1982 (trong đó có phần di n tích đất đang có tranh chấp với gia đình bà Ma Thị M, ông Quân Văn Th). Khi làm thủ tục kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ng đã nộp sổ lâm bạ gốc theo hồ sơ ê hai cho Phòng tài nguyên và M i trường huy n Ch. H để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tháng 10/2007 cán bộ địa chính xuống lập bản đồ hi n trạng và í giáp ranh đối với thửa đất, quá trình rà soát kí giáp ranh không có tranh chấp.

Đến tháng 10/2008 gia đình ng Quân Văn Th và bà Ma Thị M tự ý vào phát dọn phần di n tích đất của gia đình ng và tự nhận là đất của mình, ng đã có đơn gửi Uỷ ban nhân dân xã, xã đã tiến hành xác minh và tạm đình chỉ vi c làm của ông Th phát để chờ giải quyết, sau đó gia đình ông Th, bà M không có tranh chấp nữa và gia đình ng tiếp tục quản lý sử dụng trồng cây cối, hoa màu.

Năm 2009 thì ng được Uỷ ban nhân dân huy n Ch. H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 181789 ngày 15/6/2009 mang tên hộ ông Quan Văn Nh và bà Ma Thị N. Sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ng vẫn tiếp tục quản lý sử dụng ổn định không có tranh chấp. Đến năm 2017 gia đình ông Th, bà M lại tự ý vào phát và tranh chấp với gia đình ng, ng đã có đơn đề nghị Uỷ ban nhân dân xã giải quyết, sau đó ông Th lại thôi không tranh chấp, đến năm 2018 ông Th lại tiếp tục vào tranh chấp mang cưa xăng vào cưa gỗ và chặt hạ các cây cối của gia đình ng đồng thời có đơn đề nghị Uỷ ban nhân dân thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ng.

Đến ngày 20 tháng 02 năm 2020 ng nhận được thông báo số 28/TB-UBND của Uỷ Ban nhân dân huy n Ch. H về vi c thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đến ngày 06/05/2020 ông nhận được quyết định số 151/QĐ-UBND về vi c thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lý do: “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp khi đang có tranh chấp”. Gia đình ông Quân Văn Th lại cho người mang cưa xăng vào chặt hạ cây cối tại vườn rừng của gia đình ng, ng đã có đơn gửi uỷ ban nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân xã đã cử cán bộ xuống thực địa, lập biên bản và đình chỉ vi c chặt hạ cây cối. Vi c tranh chấp đất giữa gia đình ng và gia đình bà Ma Thị M đã được uỷ ban nhân dân xã hoà giải nhưng h ng thành.

Ông khẳng định gia đình ng Quan Văn Th và bà Ma Thị M không có di n tích đất nào tại thửa đất số 108 và cũng h ng sử dụng ngày nào di n tích đất trên, không có tài sản gì trên đất. Ông yêu cầu Tòa án buộc gia đình ng Quân Văn Th và bà Ma Thị M trả lại cho ông toàn bộ di n tích đất lấn chiếm khoảng 14.900m2 và công nhận toàn bộ di n tích đất 30.010m2 (bao gồm cả phần di n tích đất đang có tranh chấp với ông Th, bà M) theo đo đạc tại thửa số 108 tờ bản đồ số 03. Địa chỉ thửa đất tại Khuổi Khóe Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang cho gia đình ng.

2. Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Ma Thị M trình bày:

Bà M kết hôn với ông Quân Văn Th từ năm 1993 và chung sống tại Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang. Năm 1993 vợ chồng bà được bố mẹ chồng là ông Quân Văn Ph và bà Hoàng Thị Kh cho canh tác trên di n tích đất do ông Ph, bà Kh khai phá và sử dụng từ lâu. Gia đình bà canh tác, sử dụng ổn định từ năm 1993 đến năm 2006 thì xảy ra tranh chấp từ năm 2006 cho tới nay. Cụ thể là trong năm 2008 gia đình bà và gia đình ông Nh đã được Uỷ ban nhân dân xã hoà giải có biên bản ghi ngày 27/10/2008 đã có sơ đồ kẻ vẽ tại biên bản làm vi c của cán bộ địa chính xã và một số thành phần tham gia đã ghi và ẻ vẽ rõ giữa di n tích đất của gia đình bà và gia đình ông Nh đã có ranh giới bằng hình thức khe cạn làm ranh giới và tại biên bản làm vi c ngày h m đó ông Nh không có ý kiến phản hồi về thực tế trên biên bản làm vi c và hình vẽ ng đã ký trong biên bản làm vi c ngày 27/10/2008 có ghi: “Chưa giải quyết dứt điểm thì mọi hình thức giữa hai bên gia đình chưa được giải quyết thì không canh tác”. Phần di n tích đất đang có tranh chấp giữa gia đình bà và ông Nh chưa được giải quyết xong nhưng đến năm 2009 h ng hiểu lý do gì mà gia đình ông Nh được Ủy ban nhân dân huy n Ch. H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó bao gồm cả phần di n tích đất của gia đình bà M sử dụng ổn định từ năm 1993 (sau hi bố mẹ chồng cho vợ chồng bà M). Đối với sổ Lâm bạ theo như ng Quan Văn Nh cung cấp để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tẩy xóa và không thể khẳng định di n tích đất gia đình ông Nh được cấp trong sổ Lâm bà là 03ha hay là 0,3ha. Sau khi biết được gia đình ông Nh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tổng di n tích là 30.010m2 trong đó bao gồm cả phần di n tích đất của gia đình bà, gia đình bà đã đề nghị giải quyết nhiều lần cụ thể tại biên bản làm vi c ngày 19/9/2018 gia đình bà đã có một số hộ dân là người cao tuổi trong th n đã c ng nhận cho gia đình bà là di n tích đất này của gia đình bà được bố mẹ ông Th cho đã từng canh tác lâu năm.

Đến ngày 20/02/2020 Uỷ Ban nhân dân huy n Ch. H trả lời cho gia đình bà là đã huỷ quyền sử dụng đất của ông Nh sau đó gia đình bà M lại làm đơn đề nghị đến chủ tịch Uỷ ban nhân dân huy n cùng các ban ngành hãy vào cuộc xem xét và giải quyết những vướng mắc cho gia đình bà M. Ngày 04/8/2020 gia đình bà lại được mời đến Uỷ ban nhân xã M để giải quyết hoà giải, qua xem xét biên bản hoà giải gia đình bà thấy rằng cách làm vi c của cán bộ xã M có hành vi bao che cho gia đình nhà ông Nh với lý do gia đình nhà ông Nh có người làm cán bộ xã. Do vậy giải quyết thực tế h ng đến hi n trường và làm vi c tại Uỷ ban xã, theo bà biết gia đình nhà ông Nh cậy có người làm cán bộ xã nên ông Nh cố tình gây hó hăn cho các hộ gia đình có đất giáp ranh và cố ý lấn chiếm đất cụ thể là lấn chiếm đất của nhà bà D cùng thôn.

Bà khẳng định di n tích đất hi n nay đang có tranh chấp có nguồn gốc của bố mẹ chồng bà là ông Ph, bà Kh khai phá từ lâu và đến năm 1993 thì cho vợ chồng bà sử dụng, canh tác, chăm sóc cây cối trên di n tích đó ổn định cho đến năm 2006 thì xảy ra tranh chấp với gia đình ông Nh, sau đó thì gia đình bà tiếp tục quản lý, chăm sóc cho đến nay. Nay ông Quan Văn Nh khởi ki n yêu cầu gia đình bà trả lại toàn bộ di n tích đất đang có tranh chấp là 14.900m2 bà không nhất trí.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Ma Thị N trình bày: Bà là vợ của ông Quan Văn Nh. Bà sinh ra, lớn lên sinh sống tại Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang, bà kết hôn với ông Nh vào năm 1972 và chung sống với nhau tại Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình sinh sống với nhau vợ chồng bà sinh được 03 người con tên là Quan Thị A, sinh năm 1973; Quan Văn Y, sinh năm 1978; Quan Văn Q, sinh năm 1984.

Di n tích đất đang có tranh chấp giữa gia đình bà và ông Th, bà M là do vợ chồng bà khai phá từ năm 1979. Thời điểm khai phá di n tích đất này gia đình bà có 06 khẩu, gồm bà, ông Nh, bố mẹ đẻ ông Nh và 02 con là cháu A, cháu Y. Đến năm 1982 gia đình bà có đơn xin mượn đất vườn rừng và đã được Nhà nước cấp sổ lâm bạ giao quản lý di n tích đất 03 hà đất tại khu khuổi khóe, Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình sử dụng gia đình bà có đến phát dọn, trồng cây (cụ thể là cây cọ, cây xoan) và chăm sóc cây trên di n tích đất được giao.

Từ năm 1982 đến năm 2008 thì ông Th, bà M h ng có đến canh tác, sử dụng trên di n tích đất đang có tranh chấp. Đến 2008 phát sinh tranh chấp, nguyên nhân là do ông Th bà M đến phát dọn trên di n tích đất của gia đình bà. Năm 2017 tiếp tục xảy ra tranh chấp và đến năm 2020, 2021 thì bà M, ông Th mới trồng cây keo trên di n tích đất đang có tranh chấp. Đối với các cây gỗ tạp tại di n tích đất đang có tranh chấp là cây mọc tự nhiên, cụ thể các cây gỗ tạp (là cây giàng giàng và các loại cây khác) tầm khoảng 35 đến 40 tuổi cây.

Bà khẳng định di n tích đất hi n nay đang có tranh chấp với bà Ma Thị M có nguồn gốc là đất do vợ chồng bà khai phá từ năm 1978, đến năm 1982 gia đình bà được cấp sổ lâm bạ và sử dụng ổn định từ đó đến năm 2008 thì gia đình bà M, ông Th vào phát dọn và lấn chiếm. Đối với ý kiến giải quyết vụ án thì ý kiến của bà là cùng quan điểm với ông Quan Văn Nh là yêu cầu bà Ma Thị M trả lại toàn bộ di n tích đang lấn chiếm của gia đình bà .

- Bà Ma Thị D trình bày: Bà là vợ của ông Quân Văn Ngh ( ông T1 chết năm 2012) bà là người gốc ở Thôn B xã M. Khi lớn lên xây dựng gia đình với ông Quân Văn Ngh. Giữa bà và ông Nh là hàng xóm láng giềng không có quan h anh em họ hàng, cũng h ng có mâu thuẫn hay nợ nần gì nhau cả.Giữa bà và ông Th, bà M có mỗi quan h anh em vì ông Th bà M là anh trai, chị dâu ông T1 và cũng là anh trai chồng và chị dâu của bà D.

Di n tích đất đang canh tác hi n nay của gia đình bà D có giáp ranh với di n tích đất của ông Nh. Di n tích đang tranh chấp đất hi n nay ông Quan Văn Nh và ông Quân Văn Th, bà Ma Thị M tại khu Khuổi Khoé Thôn B có nguồn gốc là do các hộ dân trong thôn tự khai phá trồng luá nương. Sau đó thì bố mẹ chồng bà là ông Ph và bà Kh vào trồng lúa và trồng sắn một thời gian (năm nào thì bà không nhớ). Sau đó thì trồng tre, trồng hóp tại di n tích đó. Bà thấy di n tích đất đang tranh chấp giữa ông Nh và ông Th bà M trước đây có giáp ranh với hộ ông Ma Đình S và ông Ma Doãn V.

Bà không biết gia đình ông Nh được giao đất và được cấp sổ lâm bạ năm nào, bà chỉ biết là gia đình ông Nh được giao di n tích đất rất ít và bà có thấy ông Nh trồng cây cọ nhưng chỉ giáp với khe cạn ngăn giữa đất của ông Nh được giao và di n tích đất đang tranh chấp hi n nay với ông Th, bà M.

Từ lúc biết đến nay thì di n tích đất đang tranh chấp hi n nay giữa ông Nh và ông Th, bà M thì bà chỉ thấy ông Ph, bà Kh (bố mẹ ông Th) canh tác và trồng tre, hóp sau đó thì chia cho ông Th bà M canh tác, chứ bà không thấy gia đình ông Nh canh tác trên di n tích đó bao giờ.

Bà xác định di n tích đất giáp ranh giữa bà và gia đình ông Nh hi n nay đang có tranh chấp, di n tích ông Nh hi n nay đang lấn chiếm của gia đình bà khoảng 3.000m2. Nay bà yêu cầu ông Nh trả lại cho gia đình bà di n tích đất đang lấn chiếm.

- Ông Ma Doãn V trình bày: Ông có di n tích đất giáp ranh với di n tích đang tranh chấp của ông Nh, Ông Th, bà M, di n tích của gia đình ng tại khu Khuổi Khoé Thôn B. Hi n nay phần di n tích đất giáp ranh với di n tích đất đang tranh chấp của ông Nh và ông Th thì ông và Ông Nh, ông Th, Bà M cũng xảy ra tranh chấp, chưa xác định được ranh giới giữa hai thửa đất nên di n tích đất rừng của ng chưa có GCNQSDĐ. Đối với di n tích đất rừng của gia đình ng tại khu Khuổi Khoé, Thôn B là do bố mẹ ng để lại cho ông.

Theo như ng biết vào năm 1984 ng cùng bố mẹ ông và bố đẻ ông Th là ông Quân Văn Ph và anh trai ông Th là ông Quân Văn U (hi n đã chết) đến phần đỉnh dông của di n tích đất tranh chấp để canh tác sử dụng phần đất này. Thời điểm đó gia đình ng làm 1 phần, phần còn lại là gia đình ông Ph canh tác. Gia đình ng canh tác được 02 vụ lúa, 01 vụ sắn, sau đó có các cây lâu năm thì gia đình chỉ phát dọn. Từ năm 1993 ng có hai thác cây để làm nhà thì do bận vi c gia đình nên ng không vào phát dọn chăm sóc nữa. Sau đó thì ng có biết vi c ông Nh được nhận di n tích đất mà ng đã canh tác là đất của ông Nh.

Phần di n tích đất ông Ph, bà Kh canh tác sử dụng là phần đất giáp với di n tích đất của ông Ma Đình S. Đến thời điểm nào ông Ph, bà Kh không sử dụng thì ông không rõ. Theo ông biết thì ông Nh có một phần di n tích đất, phần đất của ông Nh giáp với Quan Văn T1 (có vợ là D) và đất ông Ma Đình X; Phần đất của ông Th, bà M là phần giáp đất ông S và giáp đất của gia đình ng. Hi n nay phần giáp ranh di n tích gia đình ng đang xảy ra tranh chấp.

Hi n đất của gia đình ng đang có tranh chấp với di n tích đất đang có tranh chấp giữa ông Nh, bà M và ông Th. Ông đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình ng và gia đình ông Nh, để xác định ranh giới đất giữa hai thửa đất tại khu Khuổi Khóe, Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

- Bà Hoàng Thị X trình bày: Về nguồn gốc đất của gia đình và nguồn gốc di n tích đất đang tranh chấp giữa ông Nh và ông Th, bà M thì bà cùng ý kiến và nhất trí với lời khai của ông Ma Doãn V (chồng bà).

- Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt Ủy ban nhân dân Tân Mỹ, huyện Ch. H trình bày: Năm 1982 UBND xã M cấp sổ Lâm bạ cho ông Quan Văn Nh trên cơ sở đơn xin mượn đất làm vườn của ông Quan Văn Nh. Vi c UBND xã M cấp sổ Lâm bạ năm 1982 cho ng Quan Văn Nh là vi c UBND xã cho ông Quan Văn Nh mượn đất làm vườn trên cơ sở đơn xin mượn đất làm vườn của ông Nh, chứ không phải UBND xã M cấp đất cho ông Nh sử dụng theo quy định của Luật đất đai. Di n tích đất đang có tranh chấp giữa ông Quan Văn Nh và bà Ma Thị M có nằm trong sổ Lâm bạ của ông Quan Văn Nh hay không thì UBND xã h ng xác định được, vì khi cấp sổ Lâm bạ tại thời điểm năm 1982 thì cán bộ đi giao ngoài thực địa h ng đo trực tiếp mà chỉ giao là hộ gia đình được mượn bao nhiêu mét vu ng đất và cũng h ng có sơ đồ thửa đất được giao. Hi n nay tại UBND xã M h ng còn lưu giữ hồ sơ cấp sổ Lâm bạ cho ông Quan Văn Nh và cũng h ng lưu giữ bản gốc sổ Lâm bạ của ông Quan Văn Nh.

Về mặt quản lý Nhà nước về đất đai tại địa phương thì UBND xã M nắm được sau hi được cấp sổ Lâm bạ thì thực tế gia đình ng Quan Văn Nh không sử dụng thường xuyên, liên tục. Năm 2006 UBND xã thực hi n rà soát lập phương án giao đất lâm nghi p cho các hộ dân trên địa bàn xã M để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo chương trình dự án RIDP. Khi đó C ng ty ảnh địa hình Miền Nam phối hợp với Phòng tài nguyên và m i trường huy n Ch. H cùng các hộ dân đi thực địa để đo đạc và giao đất, chỉ giáp ranh ngoài thực địa thì giữa hộ gia đình ông Nh và gia đình bà M xảy ra tranh chấp. Năm 2009 hộ gia đình ông Quan Văn Nh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với di n tích đất là 30.010m2 theo kết quả đo đạc, nhưng do hi làm hồ sơ ê hai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong phần di n tích ê hai đang có tranh chấp nên UBND huy n Ch. H đã thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Quan Văn Nh.

Phần di n tích đất hi n nay ông Nh đang quản lý, sử dụng và phần di n tích đất đang có tranh chấp giữa ông Nh và bà M. Về mặt pháp lý cũng như về mặt quản lý Nhà nước về đất đai thì toàn bộ hai di n tích nêu trên hi n nay UBND xã M đang quản lý. Vì di n tích đất này chưa giao hay được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân nào. Do vậy, đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật.

* Người làm chứng trình bày:

- Bà Quan Th H trình bày: Về nguồn gốc di n tích đất đang có tranh chấp giữa ông Quan Văn Nh và ông Quân Văn Th, bà Ma Thị M tại khu Khuổi Khoé Thôn B là đất của hợp tác xã, các hộ dân trong xã thay phiên nhau trồng lúa, sắn. Năm 1985, 1986 bà có thấy bố mẹ ông Quân Văn Th là ông Quân Văn Ph, bà Hoàng Thị Kh canh tác, phát dọn trồng lúa nương và sau đó trồng sắn. Ông Ph, bà Kh canh tác được vài năm. Sau hi ông Ph, bà Kh không sử dụng di n tích này thì không ai sử dụng di n tích đất này để bỏ hoang mọi người chăn trâu. Theo bà biết thì thời điểm nhà nước giao đất cho các hộ trong thôn thì bà thấy ông Nh được giao đất di n tích giáp phần di n đất ông Ph, bà Kh đã canh tác, nhưng bà h ng thấy gia đình ông Nh đến hu được giao canh tác bao giờ.

- Bà Triệu Thị Ch trình bày: Gia đình bà được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Chương Văn Ch và bà Tri u Thị Ch với di n tích được cấp là 5.103,0m2 tại khu Khuổi Khoé Thôn B, phần di n tích đất này có giáp ranh với di n tích đất của gia đình ông Nh và không có xảy ra tranh chấp gì với gia đình ông Nh, đất có ranh giới rõ ràng.

Về nguồn gốc đất đang tranh chấp giữa ông Quan Văn Nh và ông Quân Văn Th, bà Ma Thị M tại khu Khuổi Khoé Thôn B thì theo bà được biết từ năm 1978 di n tích đất này là di n tích đất hoang của nhà nước và các hộ dân trong hợp tác xã có đến canh tác. Năm 1982 nhà nước thực hi n chính sách giao đất, giao rừng cho dân, theo bà được biết cấp theo khẩu, mỗi khẩu được cấp 500 m2, gia đình bà có 10 hẩu nên được cấp 5.000m2. Thời điểm đó nhà ông Nh cũng được cấp sổ lâm bạ đối với di n tích đất tại khu Khuổi Khoé Thôn B, xã M. Theo bà được biết ông Ph, bà Kh có canh tác sử dụng di n tích đất phía giáp đất ông Luận, ông S được 01 - 02 vụ trồng lúa, trồng sắn tuy nhiên do quy định tại thời điểm đó ông Ph bà Kh đã nhận một phần đất cũng tại khu Khuổi Khoé và được cấp sổ lâm bạ, nên phần di n tích ông Ph, bà Kh canh tác, sử dụng giáp ông Luân, ông S h ng được cấp sổ lâm bạ nữa.

- Ông Quan Văn Tr trình bày: Về nguồn gốc sử dụng đất di n tích đất đang có tranh chấp giữa ông Nh và ông Th, bà M thì theo ng được biết phần di n tích đất 30.010m2 đất tại khu vực khu Khuổi Khóe, Thôn B, xã M, ông Nh sử dụng phần di n tích đất giáp ranh với di n tích đất gia đình ng Ma Đình X, ông Quân Văn T1, còn di n tích cụ thể thì ông không rõ, ông Nh sử dụng phần đất này từ nam 1982; phần còn lại thì ông Nh không canh tác.

Về nguồn gốc cụ thể phần đất 30.010m2 đất tại khu vực khu Khuổi Khóe, Thôn B, xã M là đất của tổ sản xuất vào khai phá, canh tác trồng lúa, năm cụ thể ông không nhớ rõ. Sau khi tổ sản xuất không canh tác nữa thì di n tích đất bỏ hoang. Theo ng được biết thì ông Quân Văn Ph và bà Hoàng Thị Kh có được canh tác 01 vụ trồng sắm khu vực đất giáp ranh đất ông Ma Doãn V, ông Ma Đình S, sau đó h ng canh tác Năm 2000, 2001 ng có vào hai thác gỗ tự nhiên tại khu vực ông Ph, bà Kh đã canh tác. Thời điểm đó h ng có ai canh tác, trồng cây gì hay quản lý di n tích đất này. Trong quá trình xảy ra tranh chấp thì ông có thấy bà M vào phát dọn, tỉa, phát quang phần di n tích trước đây ông Ph, và bà Kh canh tác.

- Ông Quân Văn Gi trình bày: Đối với vi c sử dụng đất đang có tranh chấp giữa ông Nh và ông Th thì ông không rõ thời điểm. Tuy nhiên ông có thấy ông Nh đến phát dọn nhưng h ng làm nương, trồng gì, đồng thời cũng thấy gia đình ông Th vào canh tác làm nương. Vị trí cụ thể hai hộ sư dụng chỗ nào tại phần đất đang tranh chấp thì ng h ng rõ. Theo ng được biết thì ông Nh được giao đất theo sổ lâm bạ, ông Nh biết vi c ông Th làm nương tại di n tích đất ông Nh được giao nhưng ông Nh lại cho rằng giống các hộ dân hác đến làm nương một vụ xong bỏ đát nên ông Nh không có ý kiến gì. Đồng thời ng được biết bố mẹ ông Th có vào canh tác trồng sắn tại di n tích đất này, sau này ông Th sử dụng còn thời gian nào ng h ng rõ. Năm 2008 thời điểm khi khảo sát, đo đạc bản đồ giao đất, giao rừng thì hộ gia đình ông Nh và hộ gia đình ông Th, bà M đều nhận di n tích đất đang có tranh chấp là của gia đình.

- Ông Ma Doãn Ngh trình bày: Về nguồn gốc di n tích đất đang có tranh chấp tại khu Khuổi Khóe, Thôn B, xã M giữa ông Nh và ông Th, bà M thì ng được biết năm 1978 đây là di n tích đất tập thể của thôn, thôn vào phát để trồng lúa. Quá trình sử dụng di n tích đất này các hộ có thay nhau canh tác ở một khoảnh của hu đất (vì hu đất này có dễ canh tác, trồng các loại cây tốt). Theo ng được biết ông Quân Văn Ph, bà Hoàng Thị Kh là bố mẹ của ông Quân Văn Th có canh tác một thời gian, sau đó thì h ng canh tác nữa. Năm cụ thể thì ông không nhớ rõ. Ngoài ra có bà Quan Thị Ng (mẹ ông Quan Thành Đ) cùng Thôn B có trồng cây Bông một năm ở hu đất này (chỉ trồng ở mép dưới khe).

Đối với ông Quan Văn Nh thì ông biết di n tích đất 30.010m2 tại khu Khuổi khóe, Thôn B, ông Nh chỉ canh tác một phần di n tích đất này, phía giáp với đất ông Quân Văn T1, ông Ma Đình Ng, cụ thể di n tích ông không rõ. Còn đối với phần di n tích đất phía giáp với đất ông Ma Doãn V, Ma Đình S, Quan Văn G thì không thấy ông Nh đến canh tác. Trong quá trình làm trưởng thôn Thôn B, ng có được tham gia hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất giữa hộ ông Nh và hộ ông Th. Ông được xem qua sổ lâm bạ của ông Nh được cấp năm 1982, đối với di n tích cụ thể được cấp thì ông không nhìn rõ vì mờ .

- Bà Ma Thị K trình bày: Bà về làm dâu và sinh sống tại Thôn B, xã M từ năm 1964 đến nay. Quá trình canh tác sử dụng di n tích đất tại khu Khuổi Khóe, Thôn B bà có được cùng ông Ph, bà Kh (mẹ ông Quân Văn Th) trồng 01 vụ lúa khác vào thời gian nào thì bà không nhớ. Về sau ông Pậu, bà Kh có tiếp tục canh tác không thì bà không rõ. Tại thời điểm bà canh tác thì không thấy ông Nh vào canh tác sử dụng đất.

- Bà Quan Thị Đ trình bày: Gia đình bà có đất giáp ranh với di n tích đất đang tranh chấp giữa ông Nh và ông Th, bà M tại khu Khuổi Khóe, Thôn B, xã M. Gia đình bà được cấp sổ lâm bạ năm 1982 và hi n đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp cho con trai bà là ông Quan Văn G. Quá trình bà canh tác sử dụng di n tích đất của gia đình thì bà có thấy bố của ông Th là ông Ph có canh tác trồng sắn một đến hai năm trên di n tích đất đang có tranh chấp giữa ông Nh và ông Th, bà M; phần di n tích đất ông Ph canh tác giáp với di n tích đất của ông Ma Doãn V.

Cùng thời điểm gia đình bà nhận sổ lâm bạ thì gia đình ông Nh cũng được cấp sổ lâm bạ đối với di n tích đất tại khu Khuổi Khóe, Thôn B, xã M (vị trí đang có tranh chấp). Ngày bà được đi nhận đất thì bà, ông Nh được cùng nhau đi nhận đất và được cán bộ chỉ khu vực đất của ai thì người đó nhận, chỉ theo khe làm ranh giới các di n tích đất của các hộ. Cán bộ đi chỉ giao đất thì bà không nhớ là ai. Ngày đi nhận và giao đất thì không có ông Quân Văn Ph hay đại di n gia đình ông Ph đến nhận đất tại Khu Khuổi Khóe, Thôn B,xã M (Tại khu vực đất đang có tranh chấp).

- Anh Ma Đình Ng trình bày: Gia đình anh có di n tích đất vườn rừng tại khu vực Khuổi Vi, thôn N. H, xã M giáp ranh với di n tích đất vườn rừng của hộ gia đình ng Quân Văn Nh và bà Ma Thị N. Di n tích đất rừng của anh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của bố mẹ anh chuyển nhượng cho từ trước năm 2008. Sau hi bố mẹ anh chuyển nhượng cho anh thì anh canh tác trên di n tích đất đó. Di n tích đất vườn rừng của anh giáp ranh với đất ông Quan Văn Nh không có tranh chấp gì với nhau cả. Còn đối với di n tích đất đang tranh chấp giữa gia đình ng Quan Văn Nh và ông Quân Văn Th, Bà Ma Thị M thì anh không biết có nguồn gốc từ đâu và cũng h ng biết hộ gia đình ông Nh hay hộ gia đình ông Th, bà M trước đây có được nhà nước giao đất và cấp sổ lâm bạ không. Từ lúc anh biết đến giờ thì anh thấy di n tích đất đang tranh chấp giữa ông Nh và ông Th, bà M thì có thấy trước đây (anh h ng nhớ năm nào) anh có thấy ông Ph và bà Kh là bố mẹ ông Th lên đây canh tác và trồng lúa, trồng sắn được khoảng 1, 2 năm gì đó sau đó thì h ng thấy ai đến canh tác trên di n tích đất tranh chấp. Giữa anh và ông Nh, ông Th và bà M không có quan h anh em gì cả. Anh xác định di n tích đất giữa hộ gia đình anh giáp ranh với đất ông Quan Văn Nh không có tranh chấp với ai.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST, ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang, quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều 35; 39, 147, 155, 157, 158, 163, Điều 165, 166, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 100, 203 Luật đất đai 2013.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Quan Văn Nh về vi c công nhận 30.010 m2 (trong đó có di n tích đất tranh chấp khoảng 14.900 m2 theo đo đạc, thuộc thửa đất số 108, tờ bản đồ số 03, địa chỉ thửa đất khu Khuổi Khóe Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang, đất rừng sản xuất) là đất của ông Quan Văn Nh.

Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, về quyền háng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/9/2023, ông Quan Văn Nh kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án số 10/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Toà án nhân dân huy n Ch. H theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Quan Văn Nh.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn ông Quan Văn Nh giữ nguyên nội dung đơn háng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông.

Người đại di n theo ủy quyền của nguyên đơn ông Quan Văn Nh: Luật sư Ông Đàm Quốc C, Công ty Luật TNHH MTV Q. C, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông, sửa bản án dân sự sơ thẩm.

iến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Về vi c chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã thực hi n đảm bảo các thủ tục về phiên tòa phúc thẩm, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ý phiên tòa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hi n đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Quan Văn Nh hợp l trong hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản án sơ thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và người đại di n theo uỷ quyền, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Toà án nhân dân huy n Ch. H.

Về án phí phúc thẩm: Ông Quan Văn Nh là người cao tuổi nên ông Nh được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Ngày 13/9/2023, ông Quan Văn Nh háng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án số 10/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Toà án nhân dân huy n Ch. H. Đơn háng cáo được thực hi n trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo và quyền kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật, nên đơn kháng cáo hợp l .

. Về nội dung kháng cáo của ông Quan Văn Nh, Hội đồng xét xử thấy: Ngày 10/8/1982 ông Quan Văn Nh có “Đơn xin mượn đất làm vườn rừng” và đề nghị Uỷ ban nhân dân xã M xét cấp di n tích đất làm vườn rừng (đơn được điền theo mẫu in sẵn). Ông Quan Văn Nh cho rằng sổ lâm bạ của gia đình ng được giao di n tích đất là 03 Ha. Tuy nhiên tại phần quyết định giao cho ông Quan Văn Nh mượn đất vườn rừng, do ông Nh cung cấp cho Tòa án là bản phô tô phần quyết định của sổ lâm bạ không có mặt sau của sổ lâm bạ (Bút lục số 14), thông tin trên bản phô tô mờ, h ng xác định được nội dung sổ lâm bạ có đúng với bản gốc h ng, h ng xác định được có bị tẩy, xóa, sửa chữa không. Vì vậy, h ng xác định được tổng di n tích đất vườn rừng giao cho ông Nh là bao nhiêu, thuộc lô, khoảnh nào. Đồng thời, phần mặt sau của Quyết định không có thông tin di n tích đất, do vậy h ng xác định được có sơ đồ mô tả thửa đất vườn rừng được giao, h ng có ích thước các cạnh. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Quan Văn Nh không cung cấp cho Tòa án bản gốc sổ lâm bạ gia đình ng được cấp năm 1982 để Hội đồng xét xử xem xét, đối chiếu. Do vậy h ng xác định được di n tích đất giao cho ông Quan Văn Nh là 03 Ha hay là 0,3 Ha.

Tuy nhiên đối với di n tích đất tranh chấp giữa ông Nh với bà M. Vợ chồng ông Quan Văn Nh và bà Ma Thị N đã được Uỷ ban nhân dân huy n Ch. H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 131789 ngày 15/6/2009, thửa đất số 108, tờ bản đồ số 03, di n tích đất 30.010m 2, mang tên người sử dụng đất ng Quan Văn Nh và bà Ma Thị N. Ngày 06/5/2020 Uỷ ban nhân dân huy n Ch. H đã ban hành Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 131789 ngày 15/6/2009 mang tên hộ ng Quan Văn Nh và bà Ma Thị N. Lý do thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trái với quy định tại hoản 4 Điều 50 luật đất đai năm 2003 (cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hi chưa đủ điều i n cấp, đang có tranh chấp quyền sử dụng đất đối với hộ bà Ma Thị M từ năm 2008).

Đối với bị đơn bà Ma Thị M trong quá trình giải quyết vụ án bà M h ng cung cấp được bất cứ tài li u chứng cứ nào chứng minh là đất của mình, bà M h ng đăng ý ê hai quyền sử dụng đất, h ng có tên trong các tài li u địa chính. Do đó h ng có cơ sở xác định di n tích đất tranh chấp là của gia đình bà Ma Thị M.

Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn ng Quan Văn Nh không cung cấp được tài li u chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu háng cáo của mình, do đó không có cơ sở chấp nhận nội dung háng cáo của ng Quan Văn Nh. Cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Toà án nhân dân huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang, như ý iến phát biểu của Đại di n Vi n iểm sát tại phiên toà phúc thẩm.

Về vi c Toà án cấp sơ thẩm hi giải quyết vụ án nhưng h ng giao đất cho ai quản lý là thiếu sót, vì vậy, tạm giao di n tích đất đang tranh chấp cho Uỷ ban nhân dân xã M quản lý là cần thiết và phù hợp với thực tế.

. Về án phí: Do ông Quan Văn Nh là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.

. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Quan Văn Nh, về vi c đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án số 10/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Toà án nhân dân huy n Ch. H theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Quan Văn Nh.

- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST ngày 30/8/2023 của Toà án nhân dân huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang, như sau:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Quan Văn Nh về vi c công nhận 30.010 m2 (trong đó có di n tích đất tranh chấp khoảng 14.900 m2 theo đo đạc, thuộc thửa đất số 108, tờ bản đồ số 03, địa chỉ thửa đất khu Khuổi Khóe Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang, đất rừng sản xuất) là đất của ông Quan Văn Nh.

Tiếp tục tạm giao cho Uỷ ban nhân dân xã M quản lý di n tích đất 30.010 m2 (trong đó có di n tích đất tranh chấp khoảng 14.900 m2 theo đo đạc, thẩm định, thuộc thửa đất số 108, tờ bản đồ số 03, địa chỉ thửa đất khu Khuổi Khóe Thôn B, xã M, huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang, để thực hi n vi c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân, hộ gia đình đủ điều ki n cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/12/2021 và ngày 22/9/2022).

2. Về án phí: Do ông Quan Văn Nh là người cao tuổi nên ông Nh được Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho ng Quan Văn Nh số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí phúc thẩm số 0002089 ngày 25/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huy n Ch. H, tỉnh Tuyên Quang.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (21/3/2024).

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ