- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án xét xử bị cáo Nguyễn Thị H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HSST Ngày: 22 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đặng và ông Văn Anh Trình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Quyền, Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXX-ST ngày 09 tháng 6 năm 2023, đối với:
Bị cáo: Nguyễn Thị H, sinh ngày 13/11/1972 tại H, Q, Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ h c v n: 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Công N (chết) và bà Đinh Thị H, có chồng Hoàng T n P; có 04 con, con lớn nh t sinh năm 1994, con nhỏ nh t sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn c m đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hồ Lý H - Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Hồ Lý H, đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình; địa chỉ: Thôn K, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1972; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
2. Ông Hoàng T n P, sinh năm 1970; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người làm chứng: Cháu Hoàng Mạnh C, sinh năm 2007; nghề nghiệp: H c sinh; địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của người làm chứng: Ông Hoàng T n P, sinh năm 1970; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 15/9/2022, Nguyễn Văn H đến nhà anh Hoàng T n P, sinh năm 1970, ở thôn Q, xã H để nhờ anh P g i người mua bò giúp H. Khi g i được người mua bò, anh P mời H ở lại uống rượu, H đồng ý. Trong quá trình ngồi nhậu thì giữa anh P và H có mâu thuẫn trong lời nói. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi anh P tiễn H ra về thì giữa anh P và H xảy ra xâu ẩu với nhau tại sân nhà của anh P. Anh P chạy đến phòng lồi cạnh giếng nước l y thanh sắt dùng để bạy đinh vào để đánh H nhưng chưa kịp đánh thì H chụp được thanh sắt đánh vào đùi trái làm anh P quỵ xuống sân. Nghe tiếng ồn ào nên Nguyễn Thị H, là vợ của P đi ra xem thì th y anh P nằm ở sân và th y H đang cầm thanh sắt nên H ra giằng co l y thanh sắt với H nhưng không được; H nói với H trả thanh sắt cho H thì H đưa cho H rồi dắt xe ra về. Sau khi l y được thanh sắt thì H dùng thanh sắt này đánh vào vùng đầu, vùng mặt và tay của H, làm H ngã xuống. Sau đó, H đuổi H ra ngoài đường, còn H và anh P vào nhà đóng khóa cửa lại. Khi H về nhà th y máu chảy nhiều ở vùng đầu, nên H bức xúc đi bộ sang nhà P dùng chân tay đập cửa g i vợ chồng anh P ra xin lỗi nhưng vợ chồng anh P không mở cửa nên H đi về. Đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 16/9/2022, H cầm cây trang dùng để cào lúa của nhà mình đi bộ sang nhà anh P; H dùng cây trang đập cửa bên hông và đi vào trong nhà của anh P. Khi th y H vào nhà, anh P và H liền bỏ chạy, H đuổi theo H và dùng cây trang đánh H từ trên xuống, H l y tay đỡ thì bị thương ở tay trái và chảy máu ở đầu, khi th y H ngồi xuống thì H không đánh nữa. H tiếp tục đi vào phòng ngủ của anh P, th y anh P đang ngồi ở giường nên H đã dùng cây trang đánh nhiều cái vào vùng đầu, vùng bụng và tay, chân của anh P. Khi th y anh P chảy nhiều máu ở đầu thì H không đánh nữa và đi về nhà. Sau đó, H đi đến Trạm y tế xã H đề băng bó viết thương, còn anh P và H được đưa đi c p cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Quảng Ninh.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 178/TgT ngày 10/11/2022, Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận: D u hiệu chính qua giám định thương tích của Hoàng T n P:
01 sẹo vùng đầu kích thước nhỏ, 01 sẹo vùng mặt kích thước trung bình, 01 sẹo vùng mặt kích thước nhỏ; 01 đám biến đổi rối loạn sắc tố da vùng mạn sườn phải; gãy 02 xương sườn bên phải, xương đang can; 01 sẹo vùng bụng kích thước nhỏ. Gãy gai ngang bên phải L1; 01 sẹo khuỷu tay phải kích thước trung bình, 02 sẹo tay trái kích thước nhỏ, 03 sẹo mu bàn tay trái kích thước nhỏ, 03 sẹo ngón V bàn tay trái kích thước nhỏ, gãy xương đốt 1 ngón V bàn tay trái, 01 sẹo đùi trái kích thước nhỏ, 01 vết biến đổi rối loạn sắc tố da gối trái, thương tích mặt trước gối phải hiện tại không để lại sẹo tích. Tỷ lệ tổn thương do các thương tích gây nên đối với Hoàng T n P hiện tại là: 28% (hai mươi tám phần trăm). Vật gây thương tích và cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích nêu trên của Hoàng T n P do vật tày tác động trực tiếp gây ra. Các thương tích nêu trên của Hoàng T n P không gây nguy hiểm cho tính mạng.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 177/TgT ngày 10/11/2022, Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận: D u hiệu chính qua giám định thương tích của Nguyễn Thị H:
02 sẹo vùng đỉnh phải kích thước nhỏ; Gãy kín 1/3 giữa xương trụ trái, đã phẩu thuật kết hợp xương, còn phương tiện kết hợp xương, xương đang can; Sẹo phẫu thuật mặt sau cẳng tay trái kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Thị H hiện tại là 12% (mười hai phần trăm). Vật gây thương tích và cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích nêu trên của Nguyễn Thị H do vật tày tác động trực tiếp gây ra. Các thương tích nêu trên của Nguyễn Thị H không gây nguy hiểm cho tính mạng.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 182/TgT ngày 15/11/2022, Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận: D u hiệu chính qua giám định thương tích của Nguyễn Văn H:
Vết thương trán trái để lại sẹo kích thước 5,5x0,3cm; 03 vết xây xát da ở gò má phải để lại 03 sẹo kích thước: 1,2x0,5cm, 1x0,3cm, 1x0,5cm; Xây xát da vùng bả vai phải để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da kích thước 3,5x2cm; Thương tích bàn tay phải, cổ bàn tay trái hiện tại không để lại sẹo tích, di chứng.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích gây nên đối với Nguyễn Văn H hiện tại là 15% (mười lăm phần trăm). Vật gây thương tích và cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích nêu trên của Nguyễn Văn H do vật tày tác động trực tiếp gây ra. Các thương tích nêu trên của Nguyễn Văn H không gây nguy hiểm cho tính mạng.
Ngày 08/11/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quảng Ninh kết luận: 01 (một) cánh cửa bằng gỗ huyệng, khung cửa cao 2,46m, rộng 80cm, cửa đã qua sử dụng. Phần cửa hư hỏng cao 56cm, rộng 62cm có giá trị 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng).
Về vật chứng vụ án: Ngày 19/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh đã tiếp nhận từ Công an xã H để tạm giữ các vật chứng gồm:
01 (một) thanh gỗ dài 85cm; đường kính 2,5cm; màu nâu, được bào các cạnh theo hình bát giác; 01 (một) thanh sắt xoắn phi 16, dài 71cm, một đầu dẹp, một đầu uốn cong để bạy đinh; 01 (một) cây trang cào lúa có lưỡi bằng kim loại được cán dẹp; dài 42,5cm; rộng 15,5cm; cán làm bằng gỗ dài 154cm; đường kính 3cm.
Ngày 27/12/2022, Công an huyện Quảng Ninh đã tạm giữ từ anh Hoàng T n Phú vật chứng gồm: 01 (một) cánh cửa nhà bằng gỗ huyệng, khung cửa cao 2,46m; rộng 80cm, cửa đã qua sử dụng. Cánh cửa đã bị hư hỏng, phần hư hỏng cao 56cm, rộng 62cm.
Ngày 07/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh đã trả lại 01 (một) cánh cửa nhà bằng gỗ huyệng cho anh Hoàng T n P.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 24/02/2023, Nguyễn Văn H đã bồi thường số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) cho anh Hoàng T n P và Nguyễn Thị H. Nguyễn Thị H đã bồi thường số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng) cho Nguyễn Văn H. Hai bên đã nhận đủ số tiền và cam đoan ch m dứt phần dân sự. Anh Hoàng T n P không yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường thiệt hại về tài sản mà H đã làm hư hỏng.
Tại Bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát biểu quan điểm, luận tội chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị H là có căn cứ. Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị H mức án từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến 60 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn H và bị cáo Nguyễn Thị H đã thỏa thuận bối thường xong; anh Hoàng T n P không yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản mà H đã gây ra.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy các loại vật chứng đã thu giữ cho có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh.
Bị cáo Nguyễn Thị H nh t trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Người bào chữa cho bị cáo thống nh t với quan điểm về tội danh cũng nhưng khung hình phạt của Viện kiểm sát đối với bị cáo, đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, e khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án th p nh t và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện hợp pháp của Bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Ninh, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo thống nh t, phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác, với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 15/9/2022, tại nhà ở của vợ chồng Hoàng T n P tại thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, Nguyễn Thị H dùng thanh sắt đánh vào vùng đầu, mặt và tay Nguyễn Văn H gây thương tích 15%. Nguyễn Văn H dùng cây trang đánh vào vùng đầu và tay trái của Nguyễn Thị H, gây thương tích 12% và đánh anh Hoàng T n P, gây thương tích 28%.
Hành vi dùng bạy đinh là hung khí nguy hiểm đánh vào người khác gây thương tích của bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự đúng như tội danh Viện kiểm sát đã truy tố. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn, nên cần phải được xử lý nghiêm.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn H đã dùng cây trang là hung khí gây thương tích cho anh Hoàng T n P 28%; cho bị cáo Nguyễn Thị H 12%. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra Nguyễn Văn H đã chết. Do đó, ngày 04/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Quảng Ninh đã ra Quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can Nguyễn Văn H.
Trong vụ án này, anh Hoàng T n P có hành vi xâu ẩu, dùng thanh sắt để đánh Nguyễn Văn H nhưng chưa gây thương tích cho Nguyễn Văn H nên không có cơ sở để xử lý đối với Hoàng T n P.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra; bị cáo đã bồi thường cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố mẹ của bị cáo là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lỗi một phần thuộc về bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, e, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét th y, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần giao cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục là hoàn toàn phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu bồi thường nên HĐXX miễn xét.
Về vật chứng vụ án: Ngày 19/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh đã đã thu giữ: 01 (một) thanh gỗ dài 85cm; đường kính 2,5cm; màu nâu, được bào các cạnh theo hình bát giác; 01 (một) thanh sắt xoắn phi 16, dài 71cm, một đầu dẹp, một đầu uốn cong để bạy đinh là của anh Hoàng T n Phú; 01 (một) cây trang cào lúa có lưỡi bằng kim loại được cán dẹp; dài 42,5cm; rộng 15,5cm; cán làm bằng gỗ dài 154cm; đường kính 3cm của gia đình Nguyễn Văn H. Xét th y tại phiên tòa, anh P, chị O đề nghị HĐXX tiêu hủy là phù hợp với Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối 01 (một) cánh cửa nhà bằng gỗ huyệng, khung cửa cao 2,46m; rộng 80cm, cửa đã qua sử dụng; ngày 27/12/2022, Công an huyện Quảng Ninh đã trả lại cho anh Hoàng T n P là hoàn toàn phù hợp với điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của Nghị định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 106; điểm g khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, e, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 22/6/2023.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải ch p hành hình phạt tù của bản án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh gỗ dài 85cm; đường kính 2,5cm; màu nâu, được bào các cạnh theo hình bát giác; 01 (một) thanh sắt xoắn phi 16, dài 71cm, một đầu dẹp, một đầu uốn cong để bạy đinh; 01 (một) cây trang cào lúa có lưỡi bằng kim loại được cán dẹp; dài 42,5cm; rộng 15,5cm; cán làm bằng gỗ dài 154cm; đường kính 3cm. T t cả vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 19 tháng 5 năm 2023.
4. Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Cơ quan điều tra CA huyện Quảng Ninh; - Cơ quan THAHS huyện Quảng Ninh; - Chi cục THA huyện Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nhàn THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |