- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn C (Cố ý gây thương tích) - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HS-ST Ngày: 16 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đàm Thị Thanh Loan.
Ông Trần Văn Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Văn Diển - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Giang Tấn Sỹ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày ngày 11 và 16 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2023/TLST-HS, ngày 06 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Văn C, sinh ngày 12-12-2003 tại tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Khóm G, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn D và bà Đặng Thị Ấ; có vợ là Trương Ý P; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 21-3-2023 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại:
Huỳnh Văn T, sinh năm 1969; cư trú tại: Khóm G, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Thị L, sinh năm 1974; cư trú tại: Khóm G, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
2. Nguyễn Văn P1, sinh năm 1970; cư trú tại: Khóm G, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
3. Huỳnh Văn D, sinh năm 1981; cư trú tại: Khóm G, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
4. Huỳnh Như Ý, sinh ngày 25-7-2008; cư trú tại: Khóm G, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Huỳnh Như Ý: Ông Huỳnh Văn D và bà Đặng Thị Ấ, là cha, mẹ của người làm chứng; cùng cư trú tại Khóm G, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/01/2023 khi bị cáo Huỳnh Văn C đang nằm ngủ tại nhà (thuộc Khóm G, Phường A, thị xã N), thì nghe tiếng ông Huỳnh Văn D (cha ruột bị cáo) cùng với ông Huỳnh Văn T, cự cải và thách thức đánh nhau ở đối diện bên sông (thuộc Khóm A, Phường A, thị xã N), biết sẽ có chuyện đánh nhau nên bị cáo đi bộ qua cây cầu khỉ để đến can ngăn, khi đến nơi thấy ông Huỳnh Văn D và ông Huỳnh Văn T đang ấu đả với nhau, thì bị cáo Huỳnh Văn C vào can ngăn cả hai bên, trong lúc can ngăn bị cáo bị đánh trúng một cây vào tay bị đau, do đêm tối bị cáo không xác định được ai đánh, bị cáo Huỳnh Văn C tức giận liền chạy lại chiếc xe đẩy (khoảng cách 09 mét) lấy cây dao chiều dài 67cm (cán gỗ dài 38cm, lưỡi dao dài 29cm) rồi quay lại, dùng hai tay cầm phần cán dao chém từ trên xuống về phía ông Huỳnh Văn T, khi đó ông Huỳnh Văn T đưa tay lên đở nên lưởi dao trúng vào tay và vùng trán bị thương, kế tiếp bị cáo Huỳnh Văn C cầm cây dao chém theo chiều ngang, chém qua chém lại 2-3 cái về phía ông Huỳnh Văn T đang đứng, lúc đó ông Huỳnh Văn T đưa tay lên đở nên trúng thêm 02 vết thương ở mu bàn tay trái và đốt ngón tay phải, thấy vậy ông Huỳnh Văn T bỏ chạy ra hướng quản lộ P, thì bị cáo Huỳnh Văn C cầm cây dao chạy đuổi theo khoảng 3-4 bước chân, đến khi thấy ông Nguyễn Văn P2 can ngăn kêu bị cáo bỏ cây dao xuống đất, thì bị cáo Huỳnh Văn C mới dừng lại.
Lúc này, bị cáo Huỳnh Văn C nhìn sang thấy Huỳnh Như Ý (em ruột bị cáo) cùng với bà Nguyễn Thị L (vợ ông T) đang nắm tóc giằn co qua lại, thì bị cáo Huỳnh Văn C cầm dao chạy lại nói với bà Nguyễn Thị L: “Bà buông ra hay không, nếu không buôn là tôi chém bà đó”, nghe vậy bà Nguyễn Thị L dừng lại không giằn co với Huỳnh Như Ý nữa, rồi bị cáo Huỳnh Văn C cùng với ông Huỳnh Văn D và Huỳnh Như Ý bỏ đi về nhà.
Riêng ông Huỳnh Văn T sau khi bị thương, đã được gia đình đưa đến Trung tâm y tế thị xã N để cấp cứu, và sau đó chuyển lên Bệnh viện Đ để điều trị, cho đến ngày 11/01/2023 thì được xuất viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 72/TgT-PY, ngày 17-02-2023 của Trung tâm Pháp Y tỉnh S, kết luận: Sẹo phần mềm vùng trán có tóc che, kích thước trung bình; bề mặt bờ vết sẹo sắc- gọn; Sẹo mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái, kích thước trung bình, bề mặt bờ vết sẹo sắc- gọn; mẻ bờ xương trụ trái; Sẹo mu bàn tay trái, kích thước lớn, bề mặt bờ vết sẹo sắc – gọn: gây tổn thương xương bàn 3,4,5 tay trái, đứt gân duỗi ngón 3,4,5, đứt bán phần gân duỗi cổ tay trụ đã được phẫu thuật khâu nối, ảnh hưởng chức năng bàn tay và ngón tay. Sẹo phần mềm đốt xa ngón 3 tay phải, kích thước nhỏ, bề mặt bờ vết sẹo sắc- gọn. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y hiện tại là: 25% (Hai mươi lăm phần trăm). Kết luận khác: Thương tích có đặc điểm do vật có cạnh sắc gây nên.
Vật chứng của vụ án: 01 cây dao bằng kim loại chiều dài 67cm, có cán bằng gỗ hình trụ tròn, màu xám dài 38cm; Lưỡi dao bằng kim loại màu nâu, mũi bằng dài 29cm, thân rộng nhất 08cm, nhỏ nhất 3,4cm.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị hại Huỳnh Văn T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại 52.000.000 đồng; trong giai đoạn truy tố, bị hại rút lại một phần, yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại 51.000.000 đồng.
Cáo trạng số 26/CT-VKSNN ngày 03-7-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Huỳnh Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Huỳnh Văn C thống nhất với bản cáo trạng, thừa nhận cáo trạng truy tố đúng với toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại bằng số tiền 38.000.000 đồng. Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm ngày trở về với gia đình.
- Bị hại thống nhất không đặt ra các khoản thiệt hại cụ thể, đồng ý mức bồi thường thiệt hại bằng số tiền là 38.000.000 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về xử lý vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị tịch thu, tiêu hủy vật chứng của vụ án gồm: 01 cây dao bằng kim loại chiều dài 67cm, có cán bằng gỗ hình trụ tròn, màu xám dài 38cm; Lưỡi dao bằng kim loại màu nâu, mũi bằng dài 29cm, thân rộng nhất 08cm, nhỏ nhất 3,4cm.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận của bị hại và bị cáo về số tiền bồi thường thiệt hại 38.000.000 đồng
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Cơ quan điều tra Công an thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt người làm chứng: Xét thấy, những người làm chứng vắng mặt đều đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của họ không làm cản trở đến việc xét xử. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn P1, chị Huỳnh Như Ý.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo, bị hại và những người làm chứng trong quá trình điều tra. Lời khai của bị cáo còn phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở xác định vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08-01-2023, trong lúc can ngăn cha ruột là Huỳnh Văn D và bác ruột là Huỳnh Văn T, bị cáo Huỳnh Văn C bị đánh trúng nên tức giận lấy cây dao có chiều dài 67cm (cán gỗ dài 38cm, lưỡi dao dài 29cm) chém vào người của ông Huỳnh Văn T. Do sự việc xảy ra vào lúc trời tối, tại khu vực bờ kênh không có đèn chiếu sáng, bị cáo không có chủ đích nhắm vào vùng cụ thể trên người bị hại để chém, nhưng kết quả chém trúng vào vùng trán, cẳng tay trái, mu bàn tay trái và ngón tay phải của bị hại gây thương tích. Qua giám định kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại là 25%.
Hành vi của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, là khách thể mà pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, sử dụng dao là hung khí nguy hiểm, chém vào người của bị hại gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 25%. Do vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng truy tố đối với hành vi của bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
HĐXX xét thấy giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ họ hàng, nhưng giữa hai gia đình có mâu thuẫn trong cuộc sống. Sự việc xảy ra chỉ vì sự tức giận nhất thời mà bị cáo đã dùng dao chém vào người, gây thương tích cho bị hại. Tại phiên tòa, bị hại đồng ý mức bồi thường thiệt hại nhưng cương quyết yêu cầu HĐXX xử lý nghiêm minh, cho thấy mức độ mâu thuẫn giữa gia đình bị cáo và bị hại vẫn còn gay gắt. Do đó, với mức độ hành vi của bị cáo và tính chất của vụ việc, HĐXX cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, HĐXX cân nhắc đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại là Đặng Hồng H tham gia cách mạng và được Nhà Nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại không đặt ra các khoản thiệt hại cụ thể mà chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 38.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nên HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị hại và bị cáo về trách nhiệm dân sự.
Về xử lý vật chứng: 01 cây dao bằng kim loại chiều dài 67cm, cán bằng gỗ hình trụ tròn, màu xám dài 38cm; lưỡi dao bằng kim loại màu nâu, mũi bằng dài 29cm, thân rộng nhất 08cm, nhỏ nhất 3,4cm là công cụ phạm tội nên bị tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 2 và khoản 8 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a và điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 2 và khoản 8 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn C 02 (hai) năm tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy vật chứng của vụ án là 01 cây dao bằng kim loại chiều dài 67cm, cán bằng gỗ hình trụ tròn, màu xám dài 38cm; lưỡi dao bằng kim loại màu nâu, mũi bằng dài 29cm, thân rộng nhất 08cm, nhỏ nhất 3,4cm (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04-7-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng).
3. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị hại và bị cáo, buộc bị cáo Huỳnh Văn C bồi thường thiệt hại cho bị hại Huỳnh Văn T số tiền 38.000.000 đồng (ba mươi tám triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Án phí sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thị xã Ngã Năm; - CQCSĐT Công an thị xã Ngã Năm; - CQTHAHS Công an thị xã Ngã Năm; - Bộ phận HSNV Công an thị xã Ngã Năm; - Chi cục THADS thị xã Ngã Năm; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Phòng KTNV TAND tỉnh Sóc Trăng; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Lâm |