vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 11/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Dương Thái B và Dương Thái A phạm T i cố ý gây thương tích và T i cố ý làm hư hỏng tài sản.

Xử phạt bị cáo Dương Thái B 18 (mười tám) tháng tù về T i cố ý gây thương tích và 09 (chín) tháng tù về T i cố ý làm hư hỏng tài sản. Tổng hợp hình phạt bu c chấp hành chung là 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án. Xử phạt bị cáo Dương Thái A 09 (chín) tháng t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "các bị cáo Dương Thái B và Dương Thái A phạm Tội cố ý gây thương tích và Tội cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc g…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Dương Thái B và Dương Thái A phạm T i cố ý gây thương tích và T i cố ý làm hư hỏng tài sản.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày: 11-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Chí Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đỗ Thị Thanh Thúy.

Ông Vũ Thanh Học.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hứa Quốc Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Vương Quốc Diệu– Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2023/TLST-HS, ngày 07 tháng 7 năm 2023 theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Dương Thái B. Sinh ngày: 05/8/1990 tại H – Kiên Giang. Nơi thường trú: Tổ 6, ấp P, xã Y, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Hẻm N, đường M, Khu phố 4, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình đ học vấn: 11/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương H2 và bà Khưu Thị M; có vợ tên Quách Mỹ S (đã ch t) và 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo được tại ngoại. (có mặt)

2. Dương Thái A. Sinh ngày: 26/10/1992 tại H – Kiên Giang. Nơi cư trú: Khu phố 3, phường S, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Tài x ; trình đ học vấn: 12/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương H2 và bà Khưu Thị M; có vợ tên Châu Thị Inh N và 02 con: Không có; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo được tại ngoại. (có mặt)

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 119, đường T, Khu phố 3, phường S, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

2. Chị Trương Thị Kim L2, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số 119, đường T, Khu phố 3, phường S, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Cháu Nguyễn Ngọc Phát L3, sinh ngày 04/4/2009. Người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Ngọc L và chị Trương Thị Kim L2. Cùng địa chỉ: Số 119, đường T, Khu phố 3, phường S, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu L3: Ông Trần K, là trợ giúp viên pháp lý thu c Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

- Người làm chứng:

1. Ông Huỳnh H; (có mặt)

2. Ông Lê Hoàng Ti n V; (vắng mặt)

3. Ông Chau Văn L4; (vắng mặt)

4. Ông Dương H2; (có mặt)

5. Bà Khưu Thị M; (có mặt)

6. Bà Châu Sanh B; (vắng mặt)

7. Ông Chay S. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo n i dung bản Cáo trạng số: 22/CT-VKSHT ngày 06 tháng 7 năm 2023 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang đã truy tố Dương Thái B và Dương Thái A về hành vi như sau: Khoảng 20 giờ, ngày 25/12/2022, Dương Thái B nhậu cùng với Dương Thái A và Huỳnh H tại nhà c a B tại thu c khu phố 4, phường Đ, thành phố H. Trong lúc nhậu, A kể lại sự việc ông Nguyễn Ngọc L và vợ là bà Trương Thị Kim L2 chửi ông Dương H2 và bà Khưu Thị M là cha mẹ ru t c a B và A, thì H r B và A đ n gặp L và L2 hỏi lý do chửi cha mẹ c a B và A, tất cả đều đ ng ý. H ra xe chạy trước đ n nhà c a L, A ra xe thì B kêu đợi, r i B lên gác lấy cây dao tự ch dài khoảng 40 cm, cán bằng gỗ, mũi dao bầu, dùng khăn quấn cây dao lại giấu trong người, lên xe cho A chở đ n nhà c a L.

Khi đ n nhà c a L tại số 119, đường T, khu phố 3, phường S, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, L đang ng i nhậu cùng với Chau Văn L4 và Lê Hoàng Ti n V ở trong sân, H đứng ngay cửa rào nói “hello anh L”, thì A điều khiển xe máy chở B đ n nhà ông L. B đi lại chỗ c a L chửi và dùng dao đã chuẩn bị sẵn chém ông L trúng vào vùng lưng trái, A lấy gh nhựa đập xuống đất làm gãy chân gh , L4 và V bỏ chạy vào trong nhà, L cũng bỏ chạy theo vào đ n cửa nhà thì bị B chém thêm m t dao trúng vào vùng vai lưng phải; L, L4 và V ti p tục chạy vào nhà sau khóa cửa lại, B cầm dao và A cầm thùng nước đá bằng nhựa ti p tục rượt đuổi theo L vào trong nhà, khi đ n cửa nhà sau, B cầm dao chém vào cửa đi nhà sau, gây trầy xước bề mặt m t đường dài 13 cm, chém vào t đựng mỹ phẩm làm bể 01 cửa kính t , còn A thì ném cái thùng dùng đựng nước đá bằng nhựa vào người Nguyễn Ngọc Phát L3 (con ru t c a L), thì L3 đưa tay lên đỡ, A lấy cái gh ng i bằng kim loại ném ti p vào vùng trán c a L3 gây sưng bầm. Sau đó, B và A quay trở ra trước nhà, B đạp ngã xe máy đang dựng trước cửa (không gây hư hỏng gì) và ném bỏ cây dao ra ngoài đường (không thu h i được), còn A cầm 02 vỏ chai bia ném vào trong nhà làm gãy cây thông Noel.

M t lúc sau, bà Trương Thị Kim L2 từ chợ H về nhà, thì nghe tin L bị chém, thấy B và A đang đứng trước nhà, L2 xảy ra cự cãi với B, bà L2 bỏ vào đứng ở phòng khách, B dùng vỏ chai bia ném vào trong nhà trúng vào ti vi làm hư hỏng màn hình, B ti p tục xông vào dùng tay đánh bà L2 nhiều cái, hai bên xảy ra xô xát, B nắm tóc bà L2 kéo ra ngoài đường, dùng tay đánh vào mặt nhiều cái, đẩy bà L2 ngã xuống đường, dùng chân đạp vào người bà L2 nhiều cái, A cũng xông vào dùng chân đạp vào người bà L2 02 cái. Hậu quả, bà L2 bị thương tích vùng mũi, ngón II, III, IV bàn tay phải, gối phải và gối trái (2 v t) và gãy xương ngón IV bàn tay phải. Được mọi người xung quanh can ngăn thì B, A bỏ về, còn ông L được người nhà đưa đ n Trung tâm y t thành phố H băng bó v t thương, r i chuyển đ n Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang ti p tục điều trị, đ n ngày 30/12/2022 ra viện, ông L và bà L2 làm đơn yêu cầu khởi tố đối với Dương Thái B và Dương Thái A về hành vi cố ý gây thương tích và cố ý làm hư hỏng tài sản.

* Tại K t luận giám định pháp y về thương tích số 37 ngày 16/01/2023 c a Trung tâm pháp y Sở y t , tỉnh Kiên Giang, k t luận đối với Nguyễn Ngọc Phát L3:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Hiện tại vùng đầu không có dấu v t thương tích do đả thương.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 00%.

3. Vật gây thương tích: Hiện tại không thấy dấu v t thương tích nên không cơ sở xác định vật gây thương tích.

4. Cơ th hình thành thương tích:

Hiện tại không thấy dấu v t thương tích nên không cơ sở xác định cơ th hình thành thương tích.

* Tại K t luận giám định pháp y về thương tích số 44 ngày 17/01/2023 c a Trung tâm pháp y Sở y t , tỉnh Kiên Giang, k t luận đối với Trương Thị Kim L2:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo phần mềm vùng mũi, ngón II, III, IV bàn tay phải, gối phải và gối trái (2 v t).

- Gãy xương ngón IV bàn tay phải, di lệch ít, hiện tại xương chưa liền, không hạn ch vận đ ng bàn tay phải.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 18%.

3. Vật gây thương tích:

- Thương tích vùng mũi do vật tày có cạnh gây nên.

- Thương tích vùng ngón II, III, IV bàn tay phải, gối phải, gối trái (02 v t) và thương tích gãy xương bàn ngón IV bàn tay phải do vật tày gây nên.

4. Cơ ch hình hành thương tích:

- Thương tích vùng mũi do vật tày có cạnh tác đ ng vào vùng mũi theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới so với trục giải phẫu cơ thể.

- Thương tích vùng ngón II, III, IV bàn tay phải do vật tày diện r ng tác đ ng vào ngón II, III, IV bàn tay phải theo hướng từ mặt lưng bàn tay phải sang mặt lòng bàn tay phải.

- Thương tích vùng gối phải do vật tày tác đ ng vào vùng gối phải theo hướng từ trước ra sau so với trục giải phẫu cơ thể.

- Thương tích vùng gối trái (02 v t) do vật tày tác đ ng vào vùng gối trái theo hướng từ trước ra sau so với trục giải phẫu cơ thể.

- Thương tích gãy xương bàn ngón IV bàn tay phải do vật tày tác đ ng vào bàn tay phải theo hướng từ sau ra trước so với trục giải phẫu cơ thể.

* Tại K t luận giám định pháp y về thương tích số 69 ngày 31/01/2023 c a Trung tâm pháp y Sở y t , tỉnh Kiên Giang, k t luận đối với Nguyễn Ngọc L:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- V t thương phần mềm lưng trái.

- V t thương lưng phải gây mẻ (đứt) 1 phần bờ dưới xương bả vai phải, hiện xương chưa liền.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 07%.

3. Vật gây thương tích: vật sắc.

4. Về cơ ch hình thành thương tích:

- Thương tích vùng lưng trái do vật sắc tác đ ng vào vùng lưng trái theo hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, từ sau ra trước so với trục giải phẫu cơ thể.

- Thương tích vùng lưng phải do vật sắc tác đ ng vào vùng lưng phải theo hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, từ sau ra trước so với trục giải phẫu cơ thể.

* Tại K t luận định giá tài sản số 02 ngày 20/02/2023 c a H i đ ng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố H, k t luận tại thời điểm ngày 25/12/2022:

1) M t màn hình tivi tinh thể lỏng, màn hình cong, nhãn hiệu TCL, loại 49 inh (đã qua sử dụng), trị giá 5.000.000 đ ng.

2) M t cánh cửa gỗ kích thước (2,10 x 0,80) mét, bị trầy xước bề mặt m t đường dài 13 cm (đã qua sử dụng), trị giá 1.066.000 đ ng.

3) M t ghé nhựa có tựa lưng loại nhỏ, màu đỏ, kích thước (63 x 31 x 32) cm (đã qua sử dụng), trị giá 52.000 đ ng.

4) M t cây thông Noel màu xanh, kích thước (1,6 x 0,60) mét (đã qua sử dụng), trị giá 390.000 đ ng.

5) M t cánh cửa t nhôm ốp kính kích thước (89 x 82 x 0,4) cm (đã qua sử dụng), trị giá 123.000 đ ng.

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại qua định giá: 6.631.000 đ ng.

* Việc thu giữ, xử lý vật chứng

- 01 ti vi tinh thể lỏng, màn hình cong, nhãn hiệu TCL, loại 49inh (đã qua sử dụng).

- 01 gh nhựa có tựa lung loại nhỏ, màu đỏ, kích thước (63 x 31 x 32) cm (đã qua sử dụng).

- 01 cây thông Noel màu xanh, kích thước (1,6 x 0,60) cm (đã qua sử dụng).

(Các vật chứng trên đã trả lại cho người bị hại)

- Các mảnh vỡ vỏ chai bia và mảnh vở cửa t kính bằng th y tinh.

(Vật chứng trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố H).

Đối với Huỳnh H, khi đ n nhà L chỉ nói “hello anh L”, không tham gia cùng B và A gây thương tích đối với L và L2, cũng không làm hư hỏng tài sản nên hành vi không cấu thành t i phạm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Dương Thái B và Dương Thái A và đề nghị H i đ ng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Dương Thái B và Dương Thái A phạm T i cố ý gây thương tích và T i cố ý làm hư hỏng tài sản.

- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, khoản 1 Điều 178, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 c a B luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Thái B mức án từ 18 tháng đ n 24 tháng tù về T i cố ý gây thương tích và từ 09 tháng đ n 12 tháng tù về T i cố ý làm hư hỏng tài sản.

- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, khoản 1 Điều 178, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 c a B luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Thái A mức án từ 09 tháng đ n 12 tháng tù về T i cố ý gây thương tích và từ 06 tháng đ n 09 tháng tù về T i cố ý làm hư hỏng tài sản.

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu h y vật chứng là các mảnh vỡ vỏ chai bia và mảnh vở cửa t kính bằng th y tinh theo quy định.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị bu c các bị cáo có trách nhiệm liên đới b i thường thiệt hại cho bị hại theo quy định pháp luật.

- Về án phí: Bu c các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo đều thống nhất với luận t i c a Kiểm sát viên, không có ý ki n tranh luận gì. Các bị cáo chỉ đ ng ý b i thường thiệt những khoản đúng quy định c a pháp luật.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và L3 ích hợp pháp c a cháu Nguyễn Ngọc Phát L3 trình bày như sau: Đề nghị áp dụng Điều 30 B luật Tố tụng hình sự, tách phần b i thường dân sự c a cháu L3 để khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Ngọc L, chị Trương Thị Kim L2 không tranh luận về trách nhiệm hình sự, đối với b i thường dân sự yêu cầu tính đúng quy định c a pháp luật.

Được nói lời nói sau cùng, các bị cáo nói bản thân đã bi t sai, vì bức xúc nên mới xảy ra vụ án, có con nhỏ, là lao đ ng chính trong gia đình, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đ ng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi c a bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm t i. Qua xem xét các lời khai c a các bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa và lời khai c a những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án và chứng minh tại phiên tòa, nên H i đ ng xét xử có đ cơ sở k t luận: Vào khoảng 20 giờ, ngày 25/12/2022, tại số nhà 119, đường T thu c Khu phố 3, phường S, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, Dương Thái A và Dương Thái B cho rằng anh Nguyễn Ngọc L và vợ là chị Trương Thị Kim L2 chửi ông Dương H2 và bà Khưu Thị M là cha mẹ ru t c a B và A, nên A điều khiển xe máy chở B, mang theo hung khí đ n nhà c a anh Huỳnh Ngọc L, A đập hư gh nhựa, B dùng dao chém anh L gây thương tích lưng phải gây mẻ (đứt) m t phần bờ dưới xương bả vai phải và phần mềm lưng trái, gây thương tích 07%, A dùng gh ném trúng vào vùng trán c a Nguyễn Ngọc Phát L3 (con ru t c a anh L và chị L2) nhưng không gây thương tích. Sau đó, B và A dùng tay, chân đánh chị L2 nhiều cái, hậu quả làm chị L2 bị thương tích vùng mũi, ngón II, III, IV bàn tay phải, gối phải và gối trái (2 v t) và gãy xương ngón IV bàn tay phải, gây thương tích 18%. Trong quá trình gây thương tích, B và A còn dập phá, làm hư hỏng tài sản c a anh L và chị L2 g m: 01 cửa kính t đựng mỹ phẩm; làm gãy cây thông noel; làm hư màn hình ti vi tinh thể lỏng - màn hình cong, nhãn hiệu TCL, loại 49 inh; làm trầy xước bề mặt cửa gỗ m t đường dài 13 cm và đập gãy 01 gh nhựa có tựa lưng loại nhỏ. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại qua định giá là 6.631.000 đ ng. Hành vi c a các bị cáo B và A đã cấu thành T i cố ý gây thương tích và T i cố ý làm hư hỏng tài sản được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 và khoản 1 Điều 178 c a B luật Hình sự. Cụ thể:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; ...

i) Có tính chất côn đồ; ...”

“Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...”.

Như vậy, Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố các bị cáo về t i danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng t i, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức đ phạm t i c a các bị cáo: Hành vi c a các bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, trực ti p xâm phạm đ n sức khỏe c a người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo sẵn sàng sử dụng bạo lực, bị cáo B lấy dao tự ch là hung khí nguy hiểm để chém bị hại L gây thương tích, dùng tay gây thương tích cho bị hại L2, bị cáo A giúp sức cho bị cáo B gây thương tích cho bị hại L, dùng chân đá, đạp vào người bị hại L2 gây thương tích. Từ đầu, các bị cáo và các bị hại không có mâu thuẫn gì với nhau, chỉ vì nghe nói mẹ c a các bị cáo bị các bị hại chửi mà các bị cáo kéo đ n nhà bị hại r i bất ngờ tấn công gây thương tích cho bị hại. Trong quá trình gây thương tích, các bị cáo còn thực hiện hành vi đập phá, làm hư hỏng các tài sản trong nhà bị hại như là ti vi, cửa gỗ, cửa kính, cây thông noel, gh nhựa. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm t i m t cách có ch tâm và ý thức, các bị cáo rất xem thường sức khỏe, tài sản c a người khác, hành xử bạo lực và xem thường pháp luật. Hành vi c a các bị cáo còn làm ảnh hưởng đ n trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân. Các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm t i nhưng không có bàn bạc kỹ lưỡng, câu k t chặt chẽ, phân công vai trò cụ thể nên chỉ là đ ng phạm giản đơn. Các thương tích, tài sản c a bị hại do các bị cáo cùng gây nên và làm thiệt hại nên phải cùng chịu trách nhiệm, tuy nhiên tính chất, mức đ phạm t i c a bị cáo B cao hơn, quy t liệt hơn so với bị cáo A.

Xét về nhân thân: Tài liệu về lý lịch thể hiện bị cáo A có nhân thân tốt, không từng có tiền án, tiền sự. Còn bị cáo B tuy không có tiền án nhưng từng có 01 tiền sự vào năm 2018 bị xử phạt tiền về hành vi đánh bạc trái phép (đã chấp hành xong), dù đã được xóa tiền sự nhưng vẫn đánh giá bị cáo B có nhân thân xấu.

Về tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo không có tình ti t tăng nặng. Về các tình ti t giảm nhẹ: Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm t i, có thái đ thành khẩn khai báo, các bị cáo phạm t i lần đầu và thu c trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị H i đ ng xét xử áp dụng cho các bị cáo tình ti t giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 c a B luật Hình sự là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về áp dụng hình phạt: Xét thấy cần áp dụng m t mức hình phạt tương xứng với hành vi c a các bị cáo sao cho vừa đảm bảo tính giáo dục, vừa răn đe phòng ngừa chung, đ ng thời vẫn đảm bảo quyền được hưởng các tình ti t giảm nhẹ c a bị cáo. Các bị cáo cùng nhau gây thương tích, gây thiệt hại tài sản cho các bị hại nhưng bị cáo B là người thực hành chính, trực ti p gây nhiều thương tích cho các bị hại và thực hiện nhiều hành vi đập phá, làm hư hỏng nhiều tài sản, thiệt hại về sức khỏe, tài sản c a các bị hại ch y u do bị cáo B gây ra. Vì vậy, mức hình phạt c a bị cáo B phải nặng hơn so với bị cáo A, phù hợp với đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát. Xét thấy cần thi t cách ly các bị cáo ra khỏi xã h i trong m t thời gian đ để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, bi t tôn trọng pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã h i.

Về b i thường thiệt hại: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại L yêu cầu các bị cáo b i thường tổng c ng 132.105.000 đ ng, bị hại L2 yêu cầu các bị cáo b i thường tổng c ng 48.000.000 đ ng, trong đó có khoản không phù hợp quy định pháp luật là khoản yêu cầu b i thường tiền xâm phạm đánh đập trẻ em cho Nguyễn Ngọc Phát L3 (con bị hại) 10.000.000 đ ng mà các bị cáo không chấp nhận b i thường. Qua phân tích, giải thích, bị hại xin rút lại yêu cầu này, không yêu cầu xem xét trong vụ án này mà sẽ khởi kiện thành vụ án dân sự để yêu cầu b i thường cho Nguyễn Ngọc Phát L3. Tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại không thống nhất được việc b i thường thiệt hại và yêu cầu H i đ ng xét xử xem xét. Theo Đơn yêu cầu b i thường thiệt hại c a anh Nguyễn Ngọc L (bút lục 203) và Đơn yêu cầu b i thường thiệt hại c a chị Trương Thị Kim L2 (bút lục 204) , trong đó có kê các khoản yêu cầu b i thường thiệt hại để yêu cầu các bị cáo b i thường có khoản quá cao, có khoản không phù hợp nên H i đ ng xét xử sẽ tính lại căn cứ theo quy định tại các điều 587, 589 và Điều 590 c a B luật Dân sự. Thiệt hại c a các bị hại do các bị cáo cùng gây ra nên các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới b i thường.

Đối với yêu cầu b i thường thiệt hại c a anh Nguyễn Ngọc L: Về b i thường sức khỏe: Số tiền chi phí nhập viện, điều trị, tài sản có hóa đơn chứng từ hợp lệ là 10.983.668 đ ng. Tiền xe chuyển viện tuy n H - R là 1.800.000 đ ng, tuy bị hại không cung cấp được hóa đơn, chứng từ nhưng đây là chi phí hợp lý cho việc cứu chữa nên cần chấp nhận. Anh L nhập viện điều trị v t thương 02 lần từ ngày 25/12/2022 đ n ngày 30/12/2022 (bút lục 217) và từ ngày 06/01/2023 đ n ngày 10/01/2023 (bút lục 218) tổng c ng là 11 ngày, nên thu nhập bị mất do nằm viện điều trị là 11 ngày. Trước khi bị thiệt hại, anh L làm nghề kinh doanh tự do, thu nhập không ổn định và không có căn cứ xác định được, tính luôn chi phí ăn uống, b i dưỡng cần chấp nhận thu nhập bị mất m t ngày là 500.000 đ ng x 11 ngày bằng 5.500.000 đ ng. Chi phí c a người chăm sóc (vợ bị hại – chị L2), do không xác định được thu nhập thực t c a chỉ L2 nên H i đ ng xét xử chỉ tính mức thu nhập tương đối là 300.000 đ ng x 11 ngày bằng 3.300.000 đ ng. Sau khi ra viện, anh L cần thời gian h i phục sức khỏe và bị mất thu nhập, b i bổ được tính trong thời gian là 15 ngày x 500.000 đ ng bằng 7.500.000 đ ng. Tiền tổn thất tinh thần được chấp nhận đối với thương tích 07% là 3,5 lần mức lương cơ sở x 1.800.000 đ ng = 6.300.000 đ ng. Như vậy, tổng số tiền thiệt hại sức khỏe c a anh L được chấp nhận là: 10.983.668 đ ng + 1.800.000 đ ng + 5.500.000 đ ng + 3.300.000 đ ng + 7.500.000 đ ng + 6.300.000 đ ng = 35.383.668 đ ng, làm tròn 35.384.000 đ ng. Về thiệt hại tài sản: Tiền sửa chữa màn hình ti vi có hóa đơn chứng từ là 7.000.000 đ ng (bút lục 219), các tài sản còn lại không có chứng cứ chứng minh giá trị thiệt hại nên căn cứ k t luận định giá tài sản để tính b i thường (bút lục 173), theo đó: M t cánh cửa gỗ trị giá 1.066.000 đ ng, m t gh nhựa có tựa lưng trị giá 52.000 đ ng, m t cây thông noel màu xanh trị giá 390.000 đ ng và m t cánh cửa t nhôm ốp kính trị giá 123.000 đ ng. Tổng c ng thiệt hại tài sản được chấp nhận là 8.631.000 đ ng.

Đối với yêu cầu b i thường thiệt hại c a chị Trương Thị Kim L2: Chị L2 không nhập viện điều trị mà chỉ đi thăm khám, số tiền chi phí có hóa đơn chứng từ hợp lệ là 168.900 đ ng (bút lục 220-221). Trước khi bị thiệt hại, chị L2 làm nghề chăm sóc sắc đẹp (tự mở tiệm), thu nhập không ổn định và không có căn cứ xác định được mức thu nhập, tính luôn chi phí ăn uống, b i dưỡng cần chấp nhận thu nhập bị mất m t ngày là 500.000 đ ng. Thương tích c a chị L2 là 18% nên cần thời gian h i phục sức khỏe và bị mất thu nhập, b i bổ được tính trong thời gian là 30 ngày x 500.000 đ ng bằng 15.000.000 đ ng. Tiền tổn thất tinh thần được chấp nhận đối với thương tích 18% là 9 lần mức lương cơ sở x 1.800.000 đ ng = 16.200.000 đ ng. Như vậy, tổng số tiền thiệt hại sức khỏe c a chị L2 được chấp nhận là: 168.900 đ ng + 15.000.000 đ ng + 16.200.000 đ ng = 31.368.900 đ ng, làm tròn 31.369.000 đ ng.

Về xử lý vật chứng: Tất cả vật chứng là tài sản c a bị hại đã được trả lại cho bị hại nên không xem xét, giải quy t. Đối với vật chứng là các mảnh vỡ vỏ chai bia và mảnh vở cửa t kính bằng th y tinh không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu h y theo quy định.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 c a B luật Tố tụng hình sự, Điều 23 c a Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Ủy ban thường vụ Quốc h i: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm. Về án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải b i thường sức khỏe cho anh L và chị L2: (35.384.000 đ ng + 31.369.000 đ ng) x 5% = 3.337.650 đ ng; án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải b i thường thiệt hại về tài sản cho anh L và chị L2 là 8.631.000 đ ng x 5% = 431.550 đ ng; tổng c ng là 3.769.200 đ ng, làm tròn 3.769.000 đ ng, mỗi bị cáo phải chịu án phí ½ là 1.884.500 đ ng.

Về tính hợp pháp c a các hành vi, quy t định tố tụng c a Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định c a B luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 134, 178, 17, 38, 47, 51, 55, 58 c a B luật Hình sự;

- Điều 106 và Điều 136 c a B luật Tố tụng hình sự;

- Các điều 584, 585, 586, 587, 589, 590 c a B luật Dân sự năm 2015;

- Điều 23 c a Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Ủy ban thường vụ Quốc h i;

1. Tuyên bố các bị cáo Dương Thái B và Dương Thái A phạm T i cố ý gây thương tích và T i cố ý làm hư hỏng tài sản.

- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, khoản 1 Điều 178, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58 c a B luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Dương Thái B 18 (mười tám) tháng tù về T i cố ý gây thương tích và 09 (chín) tháng tù về T i cố ý làm hư hỏng tài sản. Tổng hợp hình phạt bu c chấp hành chung là 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, khoản 1 Điều 178, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58 c a B luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Dương Thái A 09 (chín) tháng tù về T i cố ý gây thương tích và 06 (sáu) tháng tù về T i cố ý làm hư hỏng tài sản. Tổng hợp hình phạt bu c chấp hành chung là 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

2. Về b i thường thiệt hại:

- Bu c các bị cáo Dương Thái B và Dương Thái A liên đới b i thường thiệt hại sức khỏe cho anh Nguyễn Ngọc L số tiền 35.384.000 đ ng (Ba mươi lăm triệu ba trăm tám mươi bốn nghìn đ ng).

- Bu c các bị cáo Dương Thái B và Dương Thái A liên đới b i thường thiệt hại sức khỏe cho chị Trương Thị Kim L2 số tiền 31.369.000 đ ng (Ba mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn đ ng).

- Bu c các bị cáo Dương Thái B và Dương Thái A liên đới b i thường thiệt hại tài sản cho anh Nguyễn Ngọc L và chị Trương Thị Kim L2 số tiền 8.631.000 đ ng (Tám triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn đ ng).

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu h y các mảnh vỡ vỏ chai bia và mảnh vở cửa t kính bằng th y tinh theo Quy t định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKSHT ngày 06/7/2023 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Biên bản giao nhận đ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

4. Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bu c các bị cáo Dương Thái B và Dương Thái A, mỗi bị cáo n p 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đ ng).

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bu c các bị cáo Dương Thái B và Dương Thái A, mỗi bị cáo n p 1.884.500 đ ng (M t triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm đ ng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền L3, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ