- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thành Đạt + Trần Tuấn Kiệt - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HS-ST Ngày 27 – 02 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Trúc Hương.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Huyền Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/ QĐXXST -HS ngày 09 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/ Bị cáo thứ nhất, họ và tên: Trần Thành Đ, sinh năm: 1995, tên gọi khác: Không, tại Cà Mau; nơi cư trú: Số 68A, Trương Phùng X, khóm E, phường I, thành phố CMau, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện tại: Số 68A, Trương Phùng X, khóm E, phường I, thành phố CMau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức V và bà Phùng Thị L (cả hai còn sống); Anh, chị, em ruột: 02 người (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2005); vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Lệnh cấm đi khởi nơi cư trú ngày 14/11/2022 (Bị cáo có mặt).
2/ Bị cáo thứ hai, họ và tên: Trần Tuấn K, tên gọi khác: Không, sinh năm: 2003, tại Cà Mau; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khóm W, phường I, thành phố CMau; Chổ ở: Số 111/8, Trần Bình T, khóm T, phường T, thành phố CMau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Cao T và bà Trần Thúy L (cả hai còn sống); Anh, chị, em ruột: 02 người (lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2021); vợ: Nguyễn Thị Khả V; Con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Lệnh cấm đi khởi nơi cư trú ngày 14/11/2022 (Bị cáo có mặt).
- Bị hại: Anh Lâm Chí N, năm sinh: 2003 (Có mặt).
Nơi cư trú: Số 89, Ngô Q, khóm Q, phường O, thành phố CMau, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lâm Tấn P, sinh năm: 1987 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số 65B, Trương Phùng X, khóm W, phường I, thành phố CMau, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ, ngày 23 tháng 8 năm 2022, anh Lâm Chí N, sinh năm 1994, ngụ ấp Láng C, xã Thạnh P, huyện Cái N, tỉnh Cà Mau đến tiệm game Bi, đường Nguyễn Trãi, khóm 1, phường 9, thành phố Cà Mau để chơi game. Đến khoảng 10 giờ thì anh N ngủ tại bàn chơi game. Trong lúc này có Trần Thành Đ và Trần Tuấn K đang ngồi chơi game đối diện với anh N thì Đ phát hiện trên bàn của anh Nhẫn có một điện thoại di động Iphone 11 ProMax 256G và Đ nói với K “ê điện thoại kìa” K đứng lên nhìn rồi nói với Đ “mầy lấy đi tao không lấy đâu” nhưng sau đó K với Đ bàn nhau nếu Đ lấy được thì cả hai cùng nhau đi bán nếu Đ lấy không được thì cả hai đi về.
Sau khi bàn bạc xong thì K ra trước tiệm game đợi, còn Đ quan sát xung quanh không thấy ai nên Đ đi lại bàn của N lấy điện thoại và đi ra chỗ K đang đợi và nói đã lấy được điện thoại nên K mới kêu xe hon đa khách chở K và Đ đến tiệm điện thoại Vũ Văn bán nhưng không được. Sau đó, Đ và K đi xe hon đa khách đến nhà Lâm Tấn P, ngụ khóm W, phường I, thành phố Cà Mau nhờ P bán điện thoại dùm.
Khi nhận điện thoại Iphone 11 ProMax 256G thì P tiếp tục đưa cho Lê Nhật D, sinh năm 1999, ngụ khóm 6, phường 6, thành phố Cà Mau đi bán điện thoại với 1.500.000 đồng và P nói với D nếu bán được cao hơn giá 1.500.000 đồng, D được hưởng phần chênh lệch thì D đồng ý nhận lời và D đem điện thoại đến nhà Châu Phú L sinh năm 1996, ngụ khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau bán được 1.700.000 đồng, D mang về đưa cho P 1.500.000 đồng, P đưa lại cho Đ 1.000.000 đồng rồi Đ chia cho K 500.000 đồng, K tiêu xài cá nhân hết 350.000 đồng còn lại 150.000 đồng, Đ giữ 500.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 81/KL-HĐĐG ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
Thời điểm ngày 23 tháng 8 năm 2022
Một điện thoại di động Iphone 11 ProMax màu xanh, 256 GB, đã qua sử dụng còn lại 80%
17.490.000 x 80% = 13.992.000 đồng
Tổng cộng: 13.992.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 18/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố các bị cáo Trần Thành Đ, Trần Tuấn K về tội “Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Thành Đ, Trần Tuấn K và đề nghị:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Thành Đ, Trần Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thành Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Tuấn K từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 150.000đồng, thu của Trần Tuấn K. Tịch thu tiêu hủy một quần jean dài xanh tình trạng đã cũ qua sử dụng, một áo khoát màu tối tay dài tình trạng đã cũ qua sử dụng của Trần Tuấn K. Vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/02/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Cà Mau và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau). Một hóa đơn bán hàng của Lâm Chí N đã chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Buộc bị cáo Trần Thành Đ nộp lại số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) để sung công quỹ nhà nước. Buộc bị cáo Trần Tuấn K nộp lại số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi ngàn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa anh N yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường cho anh N số tiền 2.000.000đồng, các bị các đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh N nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo. Buộc bị cáo Đ, bị cáo K mỗi bị cáo bồi thường cho anh N số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng).
Đối với anh Lâm Tấn P đã khắc phục cho anh Châu Phú L số tiền 1.700.000 đồng, hiện anh P không yêu cầu các bị cáo trả lại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Lâm Tấn P, Lê Nhật D và Châu Phú L qua điều tra xác minh: P, D và L không biết điện thoại Iphone 11 Pro Max 256G là do trộm cắp mà có nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo Trần Thành Đ, Trần Tuấn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không oan, không sai nên thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến gì khác. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
Về hành vi phạm tội: Khoảng 10 giờ ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại tiệm game Bi thuộc khóm 1, phường 9, thành phố Cà Mau, Trần Thành Đ và Trần Tuấn K lợi dụng lúc anh Lâm Chí N đang ngủ nên Đ và K lén lút lấy trộm một điện thoại Iphone 11 Pro Max 256G của anh N theo kết luận định giá là: 13.992.000 đồng nhằm mục đích để chia nhau tiêu xài cá nhân.
Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách bất hợp pháp. Hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây hoang mang, bất ổn trong quần chúng nhân dân và làm mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý. Nhưng vì bản tính lười biếng, tham lam, muốn hưởng lợi mà không phải bỏ công sức lao động cực khổ mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng để giáo dục các bị cáo thành người công dân tốt có ích cho gia đình và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, bị cáo Kiệt là người không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Vì vậy, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 150.000đồng thu của Trần Tuấn K. Tịch thu tiêu hủy một quần jean dài xanh tình trạng đã cũ qua sử dụng, một áo khoát màu tối tay dài tình trạng đã cũ qua sử dụng của Trần Tuấn K (Vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/02/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Cà Mau và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau).
Buộc bị cáo Trần Thành Đ nộp lại số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
Buộc bị cáo Trần Tuấn K nộp lại số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi ngàn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa anh N yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường cho anh N số tiền 2.000.000đồng, các bị các đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh N nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo. Buộc bị cáo Đ, bị cáo K mỗi bị cáo bồi thường cho anh N số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng).
Đối với anh Lâm Tấn P đã khắc phục cho anh Châu Phú L số tiền 1.700.000 đồng, hiện anh P không yêu cầu các bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Lâm Tấn P, Lê Nhật D và Châu Phú L qua điều tra xác minh: P, D và L không biết điện thoại Iphone 11 Pro Max 256G là do trộm cắp mà có nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thành Đ 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Tuấn K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 150.000đồng thu của Trần Tuấn K. Tịch thu tiêu hủy một quần jean dài xanh tình trạng đã cũ qua sử dụng, một áo khoát màu tối tay dài tình trạng đã cũ qua sử dụng của Trần Tuấn K (Vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/02/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Cà Mau và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau).
Buộc bị cáo Trần Thành Đ nộp lại số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
Buộc bị cáo Trần Tuấn K nộp lại số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi ngàn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự.
Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự;
Buộc bị cáo Đ, bị cáo K mỗi người bồi thường cho anh N số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng).
Kể từ ngày anh Lâm Chí N có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo Trần Thành Đ, Trần Tuấn K phải thanh toán xong khoản tiền nêu trên, nếu không thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Trần Thành Đ, Trần Tuấn K mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng, chưa nộp).
Án phí dân sự sơ thẩm: Các bị cáo Trần Thành Đ, Trần Tuấn K mỗi người phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng, chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo, Bị hại, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Bị hại; - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND Tp. Cà Mau; - UBND phường 8, Tp. Cà Mau, T. Cà Mau; - UBND Phường 5, Tp. Cà Mau, T. Cà Mau; - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Cà Mau; - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Cà Mau; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thúy Dung |