vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 21/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo: Đỗ Đức L phạm tội “Giết người”.

[2] Trách nhiệm hình sự, hình phạt: Xử phạt: Đỗ Đức L 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 25/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đức Lâm - Bị truy tố tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo: Đỗ Đức L phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH P
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày 21 tháng 4 năm2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo, Bà Nguyễn Thị Phẩm, Ông Nguyễn Ngọc Thắng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 101/QĐXXST-HS ngày 10/4/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Đức L; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 03 tháng 02 năm 1972, tại huyện Đoan Hùng, tỉnh P;

Nơi cư trú: Khu 17, xã V, huyện T, tỉnh P;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Đoàn thể: không;

Con ông: Đỗ Văn K (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T (đã chết);

Vợ: Đỗ Thị T (đã ly hôn).

Con: Có một con sinh năm 1998.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 04 tiền sự.

+ Ngày 29/11/2021, Công an huyện T, tỉnh P đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mua các số lô, số đề” bằng hình thức xử phạt tiền với số tiền 350.000 đồng, Đỗ Đức L đã nộp phạt theo quy định.

+ Ngày 14/4/2022, Công an xã V, huyện T, tỉnh P đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bằng hình thức xử phạt Cảnh cáo.

+ Ngày 15/6/2022, Công an xã V, huyện T, tỉnh P đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bằng hình thức xử phạt tiền với số tiền 1.500.000 đồng.

+ Ngày 29/7/2022, UBND xã V, huyện T, tỉnh P đã ra quyết định áp dụng xử lý hành chính giáo dục tại xã , thời hạn là 03 tháng, kể từ ngày 29/7/2022.

- Nhân thân:

+ Ngày 14/9/2012, Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh P đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc về hành vi sử dụng chất ma túy rồi mắc nghiện. Ngày 23/01/2015, Đỗ Đức L đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở chữa bệnh.

+ Ngày 07/7/2015, Công an phường Trường Thịnh, thị xã P, tỉnh P đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bằng hình thức xử phạt tiền với số tiền 750.000 đồng; đã xác minh việc Đỗ Đức L không đủ điều kiện, khả năng nộp phạt số tiền trên.

+ Ngày 21/01/2019, Công an huyện T, tỉnh P đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bằng hình thức xử phạt tiền với số tiền 750.000 đồng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt).

Người bào chữa cho Bị cáo Đỗ Đức L: Ông Chu Văn Quyền- Luật sư Công ty luật Hợp Danh Hùng Vương P- Đoàn luật sư tỉnh P (có mặt).

Người bị hại:

Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Khu 12, xã H, huyện T, tỉnh P (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Chu Văn H, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Khu 12, xã H, huyện T, tỉnh P (vắng mặt).

2. Bà Chu Thị T, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Khu 12, xã V, huyện T, tỉnh P (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 08 giờ ngày 25/10/2022, sau khi đi uống Methadone tại Trạm y tế xã V, huyện T, tỉnh P, Nguyễn Văn L đi xe mô tô một mình đến nhà của Đỗ Đức L ở tại khu 17, xã V, huyện T, tỉnh P là người cùng uống Methadone với L tại Trạm y tế xã V. Khi gặp và nói chuyện với L thì L đã nhờ L đi mua hộ ma túy (heroin) cho L về để sử dụng. Khi đó L nói không sử dụng ma túy nữa và không biết địa điểm bán ma túy nên không đồng ý đi mua ma túy hộ L, sau đó L điều khiển xe mô tô ra khỏi nhà L. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, L tiếp tục một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19L3-5587, đầu đội mũ bảo hiểm màu đen (loại mũ bảo hiểm nửa đầu) đi đến nhà L. Lúc này, L ở nhà một mình và trong tình trạng đã uống rượu, L và L xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau ở sân nhà của L. Một lúc sau, do bực tức nên L đã cầm lấy một con dao tự chế (loại dao bằng kim loại có chiều dài 70 cm, có một đầu nhọn, phần lưỡi dao dài 25 cm, chỗ rộng nhất là 4,5 cm, phần chuôi dao là ống kim loại hình trụ tròn có chiều dài 45 cm) ở trong nhà chạy ra sân và nói với L “Mày định chơi anh à”; lúc này L đứng ở phía trước đầu xe mô tô của L vừa đi đến, L đứng ở gần giữa yên xe mô tô, L đứng cách L khoảng hơn 01 mét, sau đó tay pH L cầm dao giở lên cao chém một nhát từ trên xuống dưới, từ pH qua trái trúng vào đầu của L qua chiếc mũ bảo hiểm L đang đội trên đầu làm vỡ mũ, phần lưỡi dao trúng vào vùng thái dương đỉnh trái tạo vết thương trên hộp sọ dài 04 cm, sâu 0,5 cm và chém một nhát trúng vào vùng ngang tai trái của L tạo vết thương vùng tai dài 07 cm, khi vung dao lên chém tiếp thì chém trượt một nhát không vào người L mà chém trúng vào phần nhựa đầu xe mô tô biển số 19L3-5587. Sau khi bị chém thì L bỏ chạy ra khỏi nhà của L và được mọi người đưa đến Trung tâm y tế huyện T, tỉnh P để cấp cứu, điều trị; xe mô tô biển số 19L3-5587 của L đi đến trước đó để lại tại sân nhà của L.

Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ các dấu vết, đồ vật liên quan; tiến hành các biện pháp điều tra ban đầu theo quy định của pháp luật và chuyển hồ sơ vụ án trên đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P để tiếp tục điều tra thụ lý theo thẩm quyền.

Kiểm tra, khám phương tiện đối với chiếc xe mô tô biển số 19L3-5587: Phát hiện 01 dấu vết nứt vỡ nhựa tại vị trí phần ốp nhựa đầu xe mô tô (phía trên cụm đèn chiếu sáng phía trước) biển số 19L3-5587, kích thước (8,5 x0,5) cm. Đây là hư hỏng do Đỗ Đức L dùng dao chém anh Nguyễn Văn L, tuy nhiên khi vung dao lên chém tiếp thì chém trượt một nhát không vào người L mà chém trúng vào phần nhựa đầu xe mô tô biển số 19L3-5587 gây ra vết nứt vỡ, hư hỏng trên.

Các thương tích trên cơ thể anh Nguyễn Văn L:

- Vùng tai trái có vết thương rách ngang ½ giữa tai ra phía sau dài 07 cm, bờ vết thương sắc gọn, chảy máu.

- Vùng thái dương đỉnh trái có 01 vết thương dài khoảng 04 cm, sâu 0,5cm, bờ sắc gọn, chảy máu.

* Kết quả trưng cầu giám định:

- Ngày 26/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh P đã tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với anh Nguyễn Văn L. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 218/TgT/2022 ngày 26/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận:

+Vết thương đỉnh đầu bên trái: 01%

+ Vết thương trước ống tai ngoài bên trái (phần mặt): 03%

+ Vết thương rách đứt sụn vành tai trái: 03%

+ Vết thương sau gáy bên trái: 01%

Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư: 7,78%. Làm tròn 08%.

Kết luận:

+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn L: 08 % (Tám phần trăm).

+ Cơ chế hình thành vết thương đỉnh đầu bên trái, vành tai bên trái: Do tác động của vật sắc gây nên.

- Ngày 23/11/2022, Cơ quan CSĐT (PC01) Công an tỉnh P đã trưng cầu giám định Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định ADN đối với các dấu vết thu giữ trên các vật chứng, đồ vật, tài liệu. Tại Bản kết luận giám định số: 8056/KL-KTHS ngày 16 tháng 12 năm 2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

Trên con dao ký hiệu M (01 con dao tự chế bằng kim loại có chiều dài 70 cm, có một đầu nhọn, phần lưỡi dao dài 25 cm, chỗ rộng nhất là 4,5 cm, phần chuôi dao là ống kim loại hình trụ tròn có chiều dài 45 cm được thu giữ tại nhà ở của Đỗ Đức L) gửi giám định có bám dính máu người và là máu của Nguyễn Văn L.

- Tiến hành xét nghiệm nước tiểu đối với Đỗ Đức L và anh Nguyễn Văn L để tìm chất ma túy. Kết quả trong mẫu nước tiểu của L và anh L đều dương tính với chất ma túy. L và anh L công nhận kết quả xét nghiệm trên là đúng và khai nhận việc bản thân đều đang điều trị uống thuốc Methadone tại Trung tâm y tế xã V, huyện T, tỉnh P.

- Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Đỗ Đức L, kết quả trong hơi thở của Đỗ Đức L có nồng độ cồn là 0,593 mg/L.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

- Thu giữ 01 con dao tự chế bằng kim loại có chiều dài 70 cm, có một đầu nhọn, phần lưỡi dao dài 25 cm, chỗ rộng nhất là 4,5 cm, phần chuôi dao là ống kim loại hình trụ tròn có chiều dài 45 cm.

- 01 (một) xe mô tô biển số: 19L3-5587, nhãn hiệu HONDA Wave, số máy: HC09E5430129; số khung: 090X7Y330611.

- 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ bảo hiểm nửa đầu (trên mũ có nhiều vết nứt vỡ).

Ngày 14/01/2023, Cơ quan CSĐT (PC01) Công an tỉnh P đã trả lại chiếc xe mô tô biển số: 19L3-5587, nhãn hiệu HONDA Wave, số máy: HC09E5430129; số khung: 090X7Y330611 cho anh Chu Văn H trú tại khu 12, xã H, huyện T, tỉnh P là chủ sở hữu hợp pháp theo quy định. Anh H không yêu cầu L pH bồi thường gì về việc đã làm hư hỏng xe mô tô.

Tại cơ quan điều tra, Đỗ Đức L đã thành khẩn khai báo và hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ.

* Về bồi thường dân sự: Bà Chu Thị T đã đã bồi thường thay bị cáo Đỗ Đức L cho anh Nguyễn Văn L số tiền 7.000.000 đồng. Anh L đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bị cáo L pH bồi thường gì thêm về phần dân sự.

* Về thu nhập, tài sản: Cơ quan điều tra đã xác minh bị cáo Đỗ Đức L không có tài sản gì ngoài các đồ dùng cá nhân.

Tại Bản cáo trạng số: 20/CT – VKS-P2 ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P đã truy tố Bị cáo Đỗ Đức L về tội “Giết người” theo điểm n Khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 15; khoản 1, 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Đỗ Đức L từ 10 năm đến 11 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/10/2022.

- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bà Chu Thị T đã đã bồi thường thay bị cáo Đỗ Đức L cho anh Nguyễn Văn L số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Nay anh Nguyễn Văn L không đề nghị bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu 01 con dao tự chế bằng kim loại có chiều dài 70 cm, có một đầu nhọn, phần lưỡi dao dài 25 cm, chỗ rộng nhất là 4,5 cm, phần chuôi dao là ống kim loại hình trụ tròn có chiều dài 45 cm; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ bảo hiểm nửa đầu (trên mũ có nhiều vết nứt vỡ) để tiêu hủy.

Xác nhận ngày 14/01/2023, Cơ quan CSĐT (PC01) Công an tỉnh P đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19L3-5587, nhãn hiệu HONDA Wave, số máy HC09E5430129; số khung 090X7Y330611 cho anh Chu Văn H,

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Đức L pH chịu theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật, loại hình phạt, xử lý vật chứng, án phí kiểm sát viên đã đề nghị với Hội đồng xét xử áp dụng và xử lý đối với bị cáo nhưng người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là 09 năm tù và không có T luận gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được T tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đỗ Đức L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung bản Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và vật chứng thu giữ được, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, biên bản thực nghiệm điều tra cùng các tài liệu khác có lưu trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 25/10/2022, tại nhà của Đỗ Đức L ở khu 17, xã V, huyện T, tỉnh P, xuất phát từ việc nghi ngờ Nguyễn Văn L gài bẫy mình cho Công an bắt khi nhờ mua ma túy nên L và L đã xảy mâu thuẫn cá nhân và do đã sử dụng rượu, Đỗ Đức L đã dùng 01 con dao tự chế, loại dao bằng kim loại dài 70cm, là hung khí nguy hiểm để chém anh Nguyễn Văn L 03 nhát, trong đó có 01 nhát trúng vào đầu vùng thái dương đỉnh trái; 01 nhát trúng vào vùng ngang tai trái anh L; 01 nhát vung dao lên chém tiếp thì chém trượt không vào người L mà trúng vào phần nhựa đầu xe mô tô biển kiểm soát 19L3-5587 làm xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Hậu quả anh L L bị tổn thương cơ thể là 08%. Hành vi của Đỗ Đức L đã cấu thành tội Giết người, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự, quy định:

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

……

n) Có tính chất côn đồ;”

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo đã dùng hung khí chém nhiều nhát vào các vùng trọng yếu của người bị hại gây thương tích cho bị hại 08%, mặc dù hậu quả chết người chưa xảy ra nhưng hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm có khả năng dẫn đến hậu quả chết người. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần pH được xử lý nghiêm minh trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Sau khi bị cáo Đỗ Đức L thực hiện hành vi dùng dao chém anh Nguyễn Văn L, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi của mình, tích cực tác động đến bà Chu Thị T tự nguyện bồi thường cho anh L số tiền 7.000.000đ để khắc phục hậu quả, anh L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Đỗ Đức L được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm, quyết liệt, chém bị hại nhiều nhát vào những vùng trọng yếu, hậu quả đối với người bị hại là rất nghiêm trọng, người bị hại không chết là ngoài ý thức của bị cáo. Mặt khác khi phạm tội bị cáo có 04 tiền sự, bị cáo là người có nhân thân không tốt đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây ra hậu quả nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, vì vậy, khi áp dụng mức hình phạt cần áp dụng khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự. Lẽ ra xử phạt bị cáo 16 năm tù nhưng áp dụng khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự nên xử phạt bị cáo 12 năm tù là đúng quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 123 quy định: Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Sau khi xem xét công việc của bị cáo thì thấy bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không cần thiết pH áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Đức L.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bà Chu Thị T đã đã bồi thường thay bị cáo Đỗ Đức L cho người bị hại là anh Nguyễn Văn L số tiền 7.000.000đ, nay anh L không đề nghị bồi thường gì thêm nên cần xác nhận.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu 01 con dao tự chế bằng kim loại có chiều dài 70 cm, có một đầu nhọn, phần lưỡi dao dài 25 cm, chỗ rộng nhất là 4,5 cm, phần chuôi dao là ống kim loại hình trụ tròn có chiều dài 45 cm; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ bảo hiểm nửa đầu (trên mũ có nhiều vết nứt vỡ) để tiêu hủy.

Xác nhận ngày 14/01/2023, Cơ quan CSĐT (PC01) Công an tỉnh P đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19L3-5587, nhãn hiệu HONDA Wave, số máy HC09E5430129; số khung 090X7Y330611 cho anh Chu Văn H là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Đỗ Đức L phảichịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét đÒ nghÞ cña KiÓm s¸t viªn về tội danh đối với bị cáo, trách nhiệm dân sự và đường lối xử lý vật chứng là đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về việc áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo từ 10 năm đến 11 năm tù. Xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu nên không thể áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự và mức hình phạt Kiểm sát viên là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.

Luận cứ bào chữa của Luật sư cho bị cáo t¹i phiªn toµ đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 năm đến 10 năm tù là chưa phù hợp ph¸p luËt nªn không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ: ĐiÓm a kho¶n 1 ĐiÒu 23 NghÞ quyÕt sè: 326/2016/UBTVQH 14 ngµy 30/12/2016 cña Ủy ban th êng vô Quèc héi quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo: Đỗ Đức L phạm tội “Giết người”.

[2] Trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Xử phạt: Đỗ Đức L 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 25/10/2022.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Đức L.

[3] Trách nhiệm dân sự: Xác nhận bà Chu Thị T đã bồi thường (thay cho bị cáo Đỗ Đức L) xong cho anh Nguyễn Văn L số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

[4] Về xử lý vật chứng:

Xác nhận ngày 14/01/2023, Cơ quan CSĐT (PC01) Công an tỉnh P đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19L3-5587, nhãn hiệu HONDA Wave, số máy HC09E5430129; số khung 090X7Y330611 cho anh Chu Văn H là đúng quy định của pháp luật.

Tịch thu 01 con dao tự chế bằng kim loại có chiều dài 70 cm, có một đầu nhọn, phần lưỡi dao dài 25 cm, chỗ rộng nhất là 4,5 cm, phần chuôi dao là ống kim loại hình trụ tròn có chiều dài 45 cm; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ bảo hiểm nửa đầu (trên mũ có nhiều vết nứt vỡ) để tiêu hủy.

Các vật chứng trên có tình trạng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh P.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Đức L pH nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ