- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Công V phải bồi thường cho ông Trần Hữu Đ trị giá 01 xe đạp mini trẻ em màu hồng là 450.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HS-ST Ngày 07- 3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Bích Thủy
Ông Nguyễn Hồng Đại
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Công V, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1993, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 7/8/279 đường Đ, phường C, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Minh Ph; có vợ là Nguyễn Hoa Ph và có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án số 94/2015/HSST ngày 12/11/2015 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xóa án); tạm giam ngày 06/12/2022; có mặt.
- Bị hại:
+ Bà Trần Quý N, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số 16/8/179 đường L, phường G, quận N, thành phố H; vắng mặt.
+ Ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số 19/25 đường L, phường M, quận N, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền ăn tiêu nên Nguyễn Công V đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Trong khoảng thời gian từ ngày 18/9/2022 đến ngày 11/11/2022, V đã thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Ngô Quyền, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 18/9/2022, V một mình điểu khiển xe đạp mini màu xanh đi vào ngõ 179 đường Lê Lợi, phường Gia Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Khi V đến khu vực cạnh nhà số 1/16/88/179 đường Lê Lợi, phường Gia Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, thì V phát hiện thấy trên mái nhà có 50 con cá bơn biển đã làm sạch của bà Trần Quý N đang phơi ở trên mái không có ai trông coi. V dựng xe đạp, lấy toàn bộ 50 con cá bơn trên. Khi V đi đến khu vực bờ mương Lô 3E đường Lê Hồng Phong, phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng kiểm tra, đưa V về trụ sở làm việc.
Vụ thứ hai: Khoảng 7 giờ 50 phút ngày 11/11/2022, V tiếp tục điều khiển xe đạp mini màu xanh đi vào ngõ 27 Lê Lợi, Máy Tơ, Ngô Quyền, Hải Phòng. Khi V đi đến trước cửa nhà số 45/27 Lê Lợi, Máy Tơ, Ngô Quyền, Hải Phòng thì quan sát thấy 01 xe đạp mini trẻ em màu hồng của ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1970; trú tại: Số 19/25 25 đường L, phường M, quận N, thành phố H để ở sân, cổng không khóa. V dựng xe đạp ở ngoài, đi bộ vào trong sân lấy trộm chiếc xe đạp trên. Sau đó, V điều khiển xe đạp, dắt theo chiếc xe đạp mini trẻ em màu hồng trên đến khu vực chợ Đổ, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng bán cho 01 người đàn ông không quen biết được 250.000 đồng, số tiền này V đã chi tiêu cá nhân hết.
Vật chứng vụ án: 50 con cá bơn biển đã làm sạch, phơi khô, trọng lượng 02 kg; 01 xe đạp mini màu xanh. Đối với vật chứng là 01 xe đạp mini trẻ em màu hồng không thu hồi được.
Ngày 06/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền bắt Nguyễn Công V theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 11 ngày 01/12/2022.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 02/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ngô Quyền, Hải Phòng kết luận: 50 con cá bơn biển đã làm sạch, phơi khô trọng lượng 02 kg, tới thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 260.000 đồng.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐGTS ngày 30/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ngô Quyền, Hải Phòng kết luận: 01 xe đạp mini trẻ em màu hồng, tới thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 450.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Quý N đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm; ông Trần Hữu Đ yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá 01 xe đạp mini trẻ em màu hồng là 450.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSNQ ngày 08/02/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Công V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Nguyễn Công V đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố.
Bị hại bà Trần Quý N, ông Trần Hữu Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đã được công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Trần Quý N đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm; ông Trần Hữu Đ yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá 01 xe đạp mini trẻ em màu hồng là 450.000 đồng.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo: Nguyễn Công V với mức án từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định của pháp luật. Do bị cáo không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Trần Hữu Đ trị giá 01 xe đạp mini trẻ em màu hồng là 450.000 đồng; bà Trần Quý N đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm; về việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 xe đạp mi ni của Nuyễn Công V đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội; trong vụ án này đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi đã mua chiếc xe do V phạm tội, hiện chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
+ Về sự vắng mặt của bị hại:
Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã triệu tập hợp lệ nhưng bị hại bà Trần Quý N, ông Trần Hữu Đ vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà Trần Quý N, ông Trần Hữu Đ.
- Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 12 giờ ngày 18/9/2022 tại khu vực cạnh nhà số 1/16/88/179 đường Lê Lợi, Gia Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Công V đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bà Trần Quý N, theo Kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 02/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ngô Quyền, Hải Phòng kết luận: 50 con cá bơn biển đã làm sạch, phơi khô trọng lượng 02 kg có giá là 260.000 đồng; và khoảng 7 giờ 50 phút ngày 11/11/2022 tại trước cửa nhà số 45/27 đường Lê Lợi, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, V đã lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Trần Hữu Đ là 01 xe đạp mini trẻ em màu hồng, theo Kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐGTS ngày 30/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ngô Quyền, Hải Phòng kết luận: 01 xe đạp mini trẻ em màu hồng có giá là 450.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Công V chiếm đoạt được trong 02 vụ có trị giá là 710.000 đồng. Mặc dù lần phạm tội này trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, tuy nhiên do bị cáo đã có 01 tiền án về tội chiếm đoạt chưa được xóa án. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự .
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội, an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa trong khu dân cư.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Công V phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân bị cáo:
Bị cáo có 01 tiền án năm 2015 về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nay lại phạm tội do lỗi cố ý. Như vậy chứng tỏ bị cáo không có ý thức cải tạo tu dưỡng để làm người công dân lương thiện. Vì vậy, cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo Nguyễn Công V do không có công việc, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại bà Trần Quý N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xét.
Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Công V phải bồi thường cho ông Trần Hữu Đ trị giá 01 xe đạp mini trẻ em màu hồng là 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Về việc xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 xe đạp mi ni của Nguyễn Công V đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội.
Trong vụ án này đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi đã mua chiếc xe do V phạm tội, hiện chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau
- Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Công V phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Công V, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Công V 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 12 năm 2022.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Công V phải bồi thường cho ông Trần Hữu Đ trị giá 01 xe đạp mini trẻ em màu hồng là 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 xe đạp mi ni của Nguyễn Công V đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Bị cáo Nguyễn Công V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Nguyễn Công V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại bà Trần Quý N, ông Trần Hữu Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị hại;
- TAND TP Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận Ngô Quyền;
- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền;
Nguyễn Bích Phượng
- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
- PV06 Công an thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
- Lưu hồ sơ vụ án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - TAND TP Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng |