vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 12/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1

Xử phạt: Bị cáo Đào Ngọc T 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 09/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1
  • Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày 12 tháng 4 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thân Thị Lụa

2. Ông Lương Ngọc Biên

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Nhẫn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên

Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà: Ông

Hoàng Quang Anh, ông Lương Văn Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh

Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Ngọc T, sinh năm 1997, tại: Bắc Giang; tên gọi khác: Không;

nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn S1, xã S, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông Đào Ngọc Th, sinh năm 1974; con bà Đào Thị H, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có. Nhân thân: Ngày 28/6/2013, Uỷ ban nhân dân thành phố Bắc Giang quyết định áp dụng biện pháp Đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 06 tháng; Bản án số 152/2015/HSST ngày 25/11/2015 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2022 đến nay. Hiện

đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, (có mặt).

- Bị hại: Công ty TNHH vàng bạc Q, địa chỉ: thôn A, xã T, huyện Yên Dũng,

tỉnh Bắc Giang. Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị H - Giám Đốc, địa chỉ: thôn L, xã T, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lã Thái Ch, sinh năm 1957, địa chỉ: Số 118, đường Q, phường Tr,

thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, (có mặt).

2. Anh Nguyễn Khắc Đ, sinh năm 2000, địa chỉ: thôn 3, xã T, thành phố Bắc

Giang, tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).

3. Chị Nguyễn Thị Thương, sinh năm 1998, địa chỉ: thôn 3, xã T, thành phố

Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).

4. Chị Nguyễn Thảo H, sinh năm 1999, địa chỉ: thôn A, xã T, huyện Yên

Dũng, tỉnh Bắc Giang, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

5. Ông Thân Văn H, sinh năm 1962, địa chỉ: thôn Q, xã T, huyện Yên Dũng,

tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Ông Thân Văn H, sinh năm 1962, địa chỉ: thôn Q, xã T, huyện Yên Dũng,

tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).

2. Chị Lương Thị Th, sinh năm 1990, địa chỉ: thôn Q, xã T, huyện Yên Dũng,

tỉnh Bắc Giang, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Bà Lê Thị Ch, sinh năm 1975, địa chỉ: Khu cầu M, thị trấn H, tỉnh Lạng

Sơn, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ ngày 07/12/2022, Đào Ngọc T, sinh năm 1997, có địa chỉ: Thôn S1, xã S, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang mang theo 01 bình xịt hơi cay, 01 khẩu súng pháo diêm cất giấu trong túi quần đang mặc rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn xanh, BKS 12H1-425.25 mượn của bạn là anh Nguyễn Khắc Đ, sinh năm 2000 ở thôn 3, xã T, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đi đến tiệm vàng Qgiả vờ mua vàng để thăm dò. Sau 2 lần ra vào thăm dò, thấy lúc này cửa hàng vàng đã vắng khách nên khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Toàn điều khiển xe mô tô quay lại tiệm vàng Q, để xe ở ngoài cửa rồi đi vào gặp nhân viên cửa hàng là chị Nguyễn Thảo H, sinh năm 1999 ở thôn A, xã T, huyện Yên Dũng bảo chị H đưa cho T01 dây chuyền vàng 24K, khối lượng 10 chỉ và 01 mặt dây chuyền vàng 24K có in hình rồng nổi, khối lượng 5 chỉ để T đeo thử. Sau khi đeo vào cổ, T đội mũ áo lên đầu rồi đi bộ thẳng ra cửa, chị H và chị Lương Thị Th, sinh năm 1990 ở thôn Q, xã T, huyện Yên Dũng là nhân viên cửa hàng thấy vậy hô hoán và bật chuông báo động, thấy vậy bảo vệ cửa hàng vàng là ông Thân Văn H, sinh năm 1962 ở thôn Q, xã T, huyện Yên Dũng chạy đến túm vào áo Toàn ngăn lại thì Toàn lấy ra 01 bình xịt hơi cay cầm ở tay trái xịt về phía mặt ông H làm ông H bị cay mắt nên đã phải buông tay ra, T chạy ra vị trí xe mô tô thì ông H đuổi theo nhưng T tiếp tục dùng bình xịt hơi cay xịt về phía ông H nhiều lần rồi điều khiển xe mô tô chạy thoát và điều khiển xe mô tô đi đến nhà anh Nguyễn Khắc Đ trả xe mô tô cho anh Đ. Sau đó, Toàn thuê xe taxi rủ anh Đ đi đến thành phố Bắc Giang chơi rồi T một mình đi vào cửa hàng vàng bạc Ch của ông Lã Thái Ch, sinh năm 1957 ở số 118 đường Q, phường T, thành phố Bắc Giang bán toàn bộ số vàng vừa chiếm đoạt được cho ông Ch được 76.500.000 đồng. Số tiền này, T mua 01 chiếc điện thoại Iphone 12 promax và cùng anh Đ đi lên thị trấn H, tỉnh Lạng Sơn chi tiêu cá nhân hết 59.500.000 đồng.

Ngày 07/12/2022, chị Đỗ Thị H đã làm đơn trình báo Công an huyện Yên

Dũng. Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng đã tiến hành trích xuất hình ảnh camera tại cửa hàng vàng Q và tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả đã thu giữ được một số hình ảnh liên quan và thu giữ được tại hiện trường một số dấu vết đường vân tại hiện trường.

Ngày 09/12/2022, khi Đào Ngọc T đang ở phòng nghỉ số 202, nhà nghỉ M

thuộc số 121, đường B, khu C, thị trấn H, huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn thì bị cơ quan điều tra Công an huyện Yên Dũng phát hiện, bắt giữ khẩn cấp. Thu giữ của T: 01 Chứng minh nhân dân mang tên Đào Ngọc T, 01 quần bò; 01 đôi giày; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax; 01 túi vải màu đen có dây đeo chéo; 01 vật bằng kim loại màu đen hình dạng giống khẩu súng col (được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông ký hiệu M1); 01 bình xịt hình trụ màu xanh, nắp nhựa màu đen (được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông ký hiệu M2); 01 vòng tràng hạt màu nâu; 01 ví màu đen và 17.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra T khai nhận: 01 khẩu súng bị thu giữ là súng giả T mua

trên mạng sử dụng đem đến cửa hàng vàng bạc Quang H để nếu có ai ngăn cản sẽ bỏ ra để đe doạ; 01 bình xịt hơi cay là công cụ T sử dụng để xịt vào mặt ông H khi bị ông H ngăn cản; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax là T sử dụng số tiền có được từ việc bán số vàng cướp được để mua; 17.000.000 đồng là số tiền còn lại từ việc bán số vàng cướp được T chưa chi tiêu hết.

Sau khi biết số vàng mua của Đào Ngọc T là do phạm tội mà có, ngày

09/12/2022, ông Lã Thái Ch đã giao nộp cho cơ quan điều tra Công an huyện Yên Dũng 01 dây chuyền vàng 24K khối lượng 10 chỉ và 1 mặt dây chuyền vàng 24K khối lượng 5 chỉ (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M3). Cùng ngày, chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1998 ở thôn 3, xã T, thành phố Bắc Giang là vợ anh Nguyễn Khắc Đ đã giao nộp cho cơ quan điều tra Công an huyện Yên Dũng 01 chiếc xe mô tô BKS 12H1- 425.25.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng đã tiến hành trưng cầu

giám định dấu vết đường vân thu giữ tại hiên trường so sánh với dấu vân tay thu giữ trên danh bản, chỉ bản của Đào Ngọc T (ký hiệu M); trưng cầu giám định đối với 01 khẩu súng, 01 bình xịt và số vàng đã thu giữ.

Tại Kết luận giám định số 2463 ngày 31/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự

Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Vật hình dạng khẩu súng gửi giám định là súng pháo diêm nổ, thuộc danh mục đồ chơi nguy hiểm bị cấm, không thuộc vũ khí quân dụng.

Tại Kết luận giám định số 07 ngày 29/12/2022 của Viện khoa học hình sự -

Bộ Công an kết luận: Chất lỏng trong bình xịt hình trụ vỏ màu xanh, nắp nhựa màu đen, trên thân bình có chữ “NATO CS- GAS SILLIARDE” (Ký hiệu M2) gửi giám định có tìm thấy Nonivamide. Nonivamide là chất gây kích ứng mạnh niêm mạc da và mắt, gây cay, bỏng rát, chảy nước mắt khi tiếp xúc, thường được sử dụng trong bình xịt hơi cay.

Tại Kết luận giám định số 9134 ngày 06/01/2023 của Viện khoa học hình sự-

Bộ Công an kết luận:

- 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng, tại móc khoá có chữ “VNTN” gửi

giám định có tổng khối lượng 37,49 gam đều là vàng, hàm lượng trung bình vàng: 99,94%.

- 01 (một) mặt dây chuyền hình vuông, mặt trước có hoạ tiết rồng nổi, móc

treo có chữ, số “5HJCBP” gửi giám định có tổng khối lượng 18,73 gam đều là vàng, hàm lượng trung bình vàng: 99,92%.

Tại kết luận giám định số 262 ngày 16/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự

Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

- 01 (một) dấu vết đường vân gửi giám định thu lượm tại vị trí số 3 trên hiện

trường so với dấu vân in tại vùng mô dưới ngón út bàn tay phải trên chỉ bản gửi giám định (ký hiệu M) là của cùng một người.

- 03 (ba) dấu vết đường vân gửi giám định thu lượm tại vị trí số 5 trên hiện

trường so với dấu vân in tại các ô “Trỏ phải”, “Giữa phải”, Nhẫn Phải” trên chỉ bản gửi giám định (ký hiệu M) là của cùng một người.

- 01 (một) dấu vết đường vân gửi giám định thu lượm tại vị trí số 6 trên hiện

trường so với dấu vân in tại ô “Trỏ phải” trên chỉ bản gửi giám định (ký hiệu M) là của cùng một người.

Ngày 08/12/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng đã có

yêu cầu định giá tài sản đối với số vàng đã bị Toàn chiếm đoạt. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 90 ngày 29/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Yên Dũng kết luận: 01 (một) dây chuyền vàng, khối lượng 10 (mười) chỉ (vàng 24K) trị giá 53.300.000 đ; 01 (một) mặt dây chuyền vàng, khối lượng 5 (năm) chỉ (vàng 24K) trị giá 26.700.000 đ, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt có giá trị 80.000.000 đồng.

Đối với anh Nguyễn Khắc Đ có hành vi cho Toàn mượn xe mô tô và cùng T

đi tiêu thụ tài sản; ông Lã Thái Ch có hành vi mua số vàng của T đem đến. Tuy nhiên anh Đ không biết việc Toàn sử dụng xe mô tô đi thực hiện hành vi phạm tội; Anh Đ và ông Ch cũng không biết số vàng T mang đi bán là do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với đối tượng đã bán cho T 01 bình xịt hơi cay và 01 khẩu súng pháo diêm

nổ, Toàn khai không biết người này là ai, ở đâu nên cơ quan điều tra không làm rõ được.

Đối với Đào Ngọc T có hành vi tàng trữ 01 khẩu súng pháo diêm nổ thuộc

danh mục đồ chơi nguy hiểm bị cấm. Ngày 06/3/2023, Công an huyện Yên Dũng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Trong các ngày 17/01/2023 và 01/3/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

huyện Yên Dũng đã trả lại 01 dây chuyền và 01 mặt dây chuyền tổng khối lượng 15 chỉ vàng 24K cho chị Đỗ Thị H; 01 chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 12H1- 425.25 cho chị Nguyễn Thị Th.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại chị H, chị Th đã nhận lại tài sản không

có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự; ông H bị Toàn xịt hơi cay vào mặt nhưng chỉ bị thương nhẹ nên ông không yêu cầu Toàn bồi thường; Ông Lã Thái Ch yêu cầu Đào Ngọc T phải trả lại 76.500.000 đồng.

Vật chứng còn lại gồm: 01 Chứng minh nhân dân mang tên Đào Ngọc T, 01

quần bò; 01 đôi giày; 01 điện thoại di động Iphone 12 promax; 01 túi vải màu đen có dây đeo chéo; 01 bình xịt hình trụ màu xanh, nắp nhựa màu đen; 01 khẩu súng pháo diêm nổ; 01 vòng tràng hạt màu nâu; 01 ví màu đen và 17.000.000 đồng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự để xử lý theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra bị can đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKSYD ngày 21/3/2023 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Đào Ngọc T về tội "Cướp tài sản" theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

+ Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như tại cơ quan

điều tra đã khai nhận, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan.

+ Đại diện bị hại là bà Đỗ Thị H có mặt tại phiên tòa trình bày: Ngày

07/12/2023, chị được nhân viên bán hàng tại cửa hàng vàng Qthông báo có kẻ gian vào cướp tài sản tại cửa hàng, tài sản là 01 dây chuyền và 01 mặt dây chuyền tổng khối lượng 15 chỉ vàng 24K. Nay Công ty chị đã nhận lại được tài sản, chị không có yêu cầu gì đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lã Thái Ch có mặt và trình bày:

Khi bị cáo đến bán vàng tại cửa hàng vàng của ông, ông không hỏi bị cáo về nguồn gốc vàng, ông có mua của bị cáo 01 dây chuyền và 01 mặt dây chuyền tổng khối lượng 15 chỉ vàng 24K, ông trả cho bị cáo số tiền 76.500.000 đồng. Khi ông biết là tài sản do bị cáo chiếm đoạt được, ông đã nộp lại cơ quan điều tra số tài sản ông đã mua. Tại phiên tòa ông được biết sau khi bị cáo bán vàng cho ông bị cáo đã dùng tiền ăn tiêu và bị cáo mua 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 promax với giá 15.000.000 đồng, khi bị bắt Công an có thu giữ của bị cáo chiếc điện thoại và số tiền 17.000.000 đồng. Nay ông đề nghị trả cho ông chiếc điện thoại và số tiền trên và ông yêu cầu bị cáo phải trả cho ông số tiền còn thiếu là 44.500.000 đồng

+ Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt

tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố những lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng bị cáo và bị hại không có ý kiến gì.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng sau khi phân tích tính chất,

mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ

luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đào Ngọc T từ 08 (tám) năm đến 08 (năm) 06 (sáu) tháng tù

về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 09/12/2022

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Lã Thái Chung

số tiền 44.500.000 đồng.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với

bị cáo.

4. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình

sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại bị cáo 01 Chứng minh nhân dân mang tên Đào Ngọc T, 01 quần bò;

01 đôi giày; 01 túi vải màu đen có dây đeo chéo; 01 vòng tràng hạt màu nâu; 01 ví màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bình xịt hình trụ màu xanh, nắp nhựa màu đen; 01 khẩu

súng pháo diêm nổ.

- Trả cho ông Lã Thái Ch 01 điện thoại di động Iphone 12 promax và

17.000.000 đồng.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a,

c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận, bào chữa gì với bản luận tội của đại diện Viện

kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng về tội danh cũng như hình phạt. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện

Yên Dũng và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên và Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

. Xét về tội danh của bị cáo thì thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm

nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 ngày 07/12/2022, tại Công ty TNHH vàng bạc Q ở thôn L, xã T, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Đào Ngọc T, sinh năm 1997 ở thôn S1, xã S, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang có hành vi sử dụng 01 bình xịt hơi cay xịt vào mặt ông Thân Văn H là bảo vệ cửa hàng vàng bạc Quang H để cướp 01 dây chuyền khối lượng 10 chỉ vàng 24K và 01 mặt dây chuyền khối lượng 05 chỉ vàng 24K, với tổng giá trị là 80.000.000 đồng của Công ty TNHH vàng bạc Q, địa chỉ: thôn A, xã T, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang rồi đem đến bán cho ông Lã Thái Ch, sinh năm 1957 ở số 118 đường Q, phường Tr, thành phố Bắc Giang được 76.500.000 đồng. Toàn đã chi tiêu cá nhân hết 59.500.000 đồng, còn 17.000.000 đồng chưa kịp chi tiêu thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng bắt khẩn cấp, thu giữ 01 bình xịt hơi cay, 01 khẩu súng pháo diêm, 17.000.000 đồng và một số vật chứng khác. Cơ quan điều tra đã thu hồi toàn bộ tài sản để trả lại cho người bị hại. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng truy tố bị cáo theo tội danh, điểm, khoản và Điều trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Do bị cáo ham chơi

điện tử, lười lao động không có tiền chi tiêu cá nhân nên bị cáo nảy sinh ý định đi đến Công ty TNHH vàng bạc Qđể chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã chuẩn bị 01 bình xịt hơi cay và 01 khẩu súng pháo diêm với ý định dùng để đe doạ những người ngăn cản. Khi lấy được vàng tại Công ty TNHH vàng bạc Q, bị cáo đã có hành vi dùng bình xịt hơi cay xịt vào nhân viên bảo vệ của Công ty nhằm chạy thoát, bị cáo chiếm đoạt được 01 dây chuyền khối lượng 10 chỉ vàng 24K và 01 mặt dây chuyền khối lượng 05 chỉ vàng 24K, với tổng giá trị là 80.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2013, bị

cáo bị xử phạt hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, năm 2015 bị cáo đã bị xét xử về hình sự đối với hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo không lấy đó làm bài học mà con phạm tội.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá

trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo

không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội do lỗi cố ý, nhưng bị cáo không có

việc làm ổn định, do vậy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

- Công ty TNHH vàng bạc Q đã nhận lại 01 dây chuyền khối lượng 10 chỉ

vàng 24K và 01 mặt dây chuyền khối lượng 05 chỉ vàng 24K, với tổng giá trị là 80.000.000 đồng do cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với yêu cầu của ông Lã Thái Ch buộc bị cáo phải bồi thường số tiền

44.500.000 đồng thì thấy: Ông Lã Thái Ch mua của bị cáo 01 dây chuyền khối lượng 10 chỉ vàng 24K và 01 mặt dây chuyền khối lượng 05 chỉ vàng 24K với số tiền 76.500.000 đồng, khi mua ông Ch không biết là tài sản do phạm tội mà có. Toàn bộ tài sản trên, ông Chung đã nộp lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng để trả lại cho bị hại là Công ty TNHH vàng bạc Q. Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí trả cho ông Ch chiếc điện thoại và số tiền 17.000.000 đồng khi bị bắt cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo và ông Ch nhất trí nhận lại chiếc điện thoại và số tiền trên và trừ vào số tiền bị cáo phải bồi thường cho ông. Do vậy, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Lã Thái Ch số tiền 44.500.000 đồng là phù hợp với Điều 48 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 Chứng minh nhân dân mang tên Đào Ngọc T, 01 quần bò, màu

xám ghi (đã qua sử dụng); 01 đôi giày màu đen, loại có dây buộc (đã qua sử dụng);01 túi vải màu đen có dây đeo chéo (đã qua sử dụng); 01 vòng, loại tràng hạt màu nâu (đã qua sử dụng); 01 ví màu đen (đã qua sử dụng), đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo đề nghị xin lại, do vậy cần trả lại bị cáo là phù hợp với Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 promax, màu trắng, số imel

354692273679718, phía sau có ốp nhựa màu trắng (đã qua sử dụng) và số tiền 17.000.000 đồng, đây là tài sản bị cáo có được khi bị cáo bán tài sản chiếm đoạt cho ông Lã Thái Ch. Tại phiên tòa ông Ch nhất trí lấy lại số tài sản trên để khấu trừ vào số tiền bị cáo phải bồi thường cho ông, do vậy cần trả cho ông Lã Thái Ch chiếc điện thoại và số tiền trên.

- Đối với 01 bình xịt hình trụ màu xanh, nắp nhựa màu đen, trên có in dòng

chữ “NATOCS-GAS SILLARDE” được niêm phong vào hộp caxton, ký hiệu M2, có chữ ký của những thành phần tham gia; 01 khẩu súng, được niêm phong vào hộp caxton, ký hiệu M1, có chữ ký của những thành phần tham gia, đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và vật cấm lưu hành, do vậy cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các vấn đề khác:

- Đối với anh Nguyễn Khắc Đ có hành vi cho Toàn mượn xe mô tô và cùng

Toàn đi tiêu thụ tài sản; ông Lã Thái Ch có hành vi mua số vàng của T đem đến. Tuy nhiên anh Đ không biết việc Toàn sử dụng xe mô tô đi thực hiện hành vi phạm tội. Anh Đ và ông Ch cũng không biết số vàng T mang đi bán là do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

- Đối với đối tượng đã bán cho T 01 bình xịt hơi cay và 01 khẩu súng pháo

diêm nổ, Toàn khai không biết người này là ai, ở đâu nên cơ quan điều tra không làm rõ được.

- Đối với Đào Ngọc T có hành vi tàng trữ 01 khẩu súng pháo diêm nổ thuộc

danh mục đồ chơi nguy hiểm bị cấm. Ngày 06/3/2023, Công an huyện Yên Dũng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ

thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1

Điều 51, các Điều 38, 47, 48 Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Xử phạt: Bị cáo Đào Ngọc T 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp

tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 09/12/2022.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Lã Thái Ch

số tiền 44.500.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng)

4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối

với bị cáo

5. Vật chứng của vụ án:

- Trả lại bị cáo 01 Chứng minh nhân dân mang tên Đào Ngọc T, 01 quần bò,

màu xám ghi (đã qua sử dụng); 01 đôi giày màu đen, loại có dây buộc (đã qua sử dụng); 01 túi vải màu đen có dây đeo chéo (đã qua sử dụng); 01 vòng, loại tràng hạt màu nâu (đã qua sử dụng); 01 ví màu đen (đã qua sử dụng).

- Trả cho ông Lã Thái Ch 01 điện thoại di động Iphone 12 promax, màu trắng,

số imel 354692273679718, phía sau có ốp nhựa màu trắng (đã qua sử dụng) và số tiền 17.000.000 đồng

- Tịch thu tiêu hủy 01 bình xịt hình trụ màu xanh, nắp nhựa màu đen, trên có

in dòng chữ “NATOCS-GAS SILLARDE” được niêm phong vào hộp caxton, ký hiệu M2, có chữ ký của những thành phần tham gia; 01 khẩu súng, được niêm phong vào hộp caxton, ký hiệu M1, có chữ ký của những thành phần tham gia.

(Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện

Yên Dũng theo Quyết định chuyển vật chứng số 30/QĐ-VKS ngày 21/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng).

6. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và

2.225.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

7. Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối

với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

8. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có

mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

9. Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo

quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ