- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn Gphạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Xử pha ̣t Trịnh Văn G 07 (bảy) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HS-ST Ngày 09 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐI ̣NH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hưng.
2. Ông Lê Minh Chiểu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh , Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 5 năm 2023 tại Tru ̣ sở , Tòa án nhân dân huyệ n Yên Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai , vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2023/TLST - HS ngày 07 tháng 4 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Văn G; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 12/5/1993, tại xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Bố: Trịnh Văn Tr, sinh năm 1967; Mẹ: Trịnh Thị H, sinh năm 1968; Gia đình có 02 chị em. Bị cáo là con thứ 02; Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1994 (Đã ly hôn); Con: Có 01 là Trịnh Thị Bích Nc, sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 6 Nhân Đạo, phường Đồng Mai, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 16/7/2022, Trịnh Văn G làm nghề lao động tự do tại thành phố Hà Nội thuê xe taxi của anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1984 ở tổ 6 Nhân Đạo, Phường Đồng Mai, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đi từ bến xe Yên Nghĩa, thành Phố Hà Nội về nhà ở thôn T, xã Đ, huyện Yên Định. Khi về đến nhà G mượn điện thoại Iphone 8 Plus của anh H để gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho mẹ của G đang ở Trung Quốc để nhờ mẹ trả tiền xe taxi, nhưng theo G khai mẹ G không đồng ý. Sau đó, G bảo anh H chở ra thị trấn Quán Lào để thuê nhà nghỉ cùng G, sáng hôm sau xin được tiền G sẽ thanh toán cho anh H, nhưng anh H không đồng ý. Anh H bảo G mai liên lạc trả tiền sau. Lúc này, do không có tiền trả tiền thuê taxi và anh H vẫn để điện thoại cho G cầm nên G đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh H. G dùng thủ đoạn nhờ anh H chở quay lại thôn T, xã Đ, huyện Yên Định. Khi quay về trước nhà G mượn điện thoại của anh H lại giả vờ gọi điện thoại cho người thân trả tiền thuê taxi và nói với anh H điều khiển xe tiến lên một đoạn để quay đầu xe, còn G cầm điện thoại mở cửa xuống xe. Lúc này, G cầm điện thoại nhưng không gọi điện mà chỉ giả vờ bấm màn hình rồi lợi dụng khi anh H đang điều khiển lái quay đầu xe thì G đi nhanh xuống bờ sông Mã lẩn trốn chiếm đoạt điện thoại. Đồng thời chiếm đoạt luôn số tiền thuê xe là 600.000đồng. Sau đó, sáng ngày 17/7/2022 G đi xe khách đến Hà Nội bán điện thoại cho một cửa hàng ở khu vực quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, nhưng G không nhớ rõ địa chỉ được số tiền 2.000.000đồng tiền tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 28/10/2022 Trịnh Văn G đến Công an xã Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Kết quả định giá tài sản xác định: 01 điện thoại Iphone 8 Plus trị giá 4.000.000đồng.
Về vật chứng vụ án: Trịnh Văn G đã bán 01 điện thoại Iphone 8 Plus của anh Nguyễn Đức H cho của hàng điện thoại tại khu vực quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, G không nhớ chính xác tên và địa chỉ cửa hàng này nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Trịnh Văn G đã nhờ bố đẻ Trịnh Văn Tr bồi thường cho anh Nguyễn Đức H 4.600.000đồng. Hiện nay anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho G.
Quá trình điều tra, còn chứng minh được bằng cách thức và thủ đoạn tương tự vào ngày 10/5/2022 Trịnh Văn G đã lừa đảo chiếm đoạt 01 điển thoại Reatme C3 trị giá 1.600.000đồng và số tiền uống bia tại quán của gia đình đình chị Nguyễn Thị Hường là 140.000đồng. Tuy nhiên, tổng số tiền chiếm đoạt chưa đủ định lượng để khởi tố, nên Cơ quan điều tra đã chuyển đến Công an huyện Yên Định ra quyết định xử phạt hành chính đối với Trịnh Văn G.
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSYĐ ngày 16/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh truy tố bị can Trịnh Văn G về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa: Bị cáo Trịnh Văn G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đ ịnh luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử pha ̣t Trịnh Văn G từ 07 tháng đến 10 tháng tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/10/2022.
Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễm xét.
- Về án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
̀
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định, hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân và không có tiền trả tiền thuê taxi cho anh Nguyễn Đức H nên khoảng 23 giờ ngày 16/7/2022, Trịnh Văn G đã nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của anh H. Khi anh H đưa G về đến ngõ nhà mình, G mượn điện thoại của anh H giả vờ gọi điện thoại cho người thân chuyển tiền để trả tiền thuê taxi. Anh H đưa điện thoại cho G, G xuống xe và bảo anh H lái xe tiến lên một đoạn để quay đầu xe lại. Lợi dụng anh H quay đầu xe G đi nhanh xuống bờ sông Mã lẩn trốn chiếm đoạt chiếc điện thoại trị giá 4.000.000đồng nêu trên và số tiền 600.000đồng thuê xe taxi của anh H. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được xác định là 4.600.000đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Với hành vi khách quan nêu trên đủ căn cứ khẳng định hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Trịnh Văn G. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Như vậy, tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chính thức được thành lập đối với bị cáo Trịnh Văn G. VKSND huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất của vụ án và quan hệ pháp luật xâm phạm:
Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, động cơ và mục đích phạm tội của bị cáo là lừa đảo tài sản của người khác để lấy tiền sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. Hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.
4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và hình phạt:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1 điều 51 BLHS. Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Căn cứ các tình tiết vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên HĐXX xét thấy: Mặc dù tính chất vụ án ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, song bị cáo là đối tượng công ăn việc làm không ổn định, sống nay đây mai đó. Đã thực hiện nhiều lần hành vi lừa đảo nhỏ lẻ trước đó, do vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc trong môi trường giam giữ là cần thiết. Có như vậy mới đủ điều kiện, thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, chưa có tiền án tiền sự, nên khi lượng hình cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trịnh Văn G đã nhờ bố đẻ là Trịnh Văn Trường bồi thường cho anh Nguyễn Đức H 4.600.000đồng. Anh H không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Trịnh Văn G, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử pha ̣t Trịnh Văn G 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/10/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho người bị hại.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí. Buộc bị cáo Trịnh Văn G phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên quyền kháng cáo bản án cho bị cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại Nguyễn Đức H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Yên Định; - Công an huyện Yên Định; - Bị cáo; - Người bị hại; - Chi cục THADS Yên Định; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Phạm Hữu Thắng |