vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Tuyên án 24/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 11/02/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH HÀ
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày: 24 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Kim Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bình

Ông Lê Công Nhận

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

- Cán bộ hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

1. Bà Hoàng Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà.

2. Ông Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà.

3. Ông Vũ Xuân Hợp - Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử trực tuyến, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2023/TLST-HS, ngày 03/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 tại K, N, Hải Dương; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu dân cư K, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Chu Thị N có vợ Nguyễn Thị T và có 01 con; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54 ngày 29/7/2005 của Công an tỉnh Hải Dương đối với Nguyễn Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức: cảnh cáo.

- Bản án số 116/2009/HSST ngày 15/6/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Xử phạt Nguyễn Văn T 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã nộp án phí ngày 03/8/2009, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/3/2011;

- Bản án số 117/2015/HSST ngày 17/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Xử phạt Nguyễn Văn T 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã nộp án phí ngày 04/01/2016, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/8/2017;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2023, đến ngày 14/02/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương; có mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Đặng Văn T; vắng mặt.

2. Chị Lê Thị Thanh H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy, khoảng 18 giờ 45 phút ngày 11/02/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu vietthai màu xanh, biển số 34AA-115.16 (xe mượn của chị Lê Thị Thanh H, cháu của T) từ nhà đến khu vực Trung tâm y tế huyện T, tỉnh Hải Dương, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T mua được 01 gói ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 150.000đ. T cầm gói ma túy ở lòng bàn tay phải và đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, khi đang đi trên đường 390, thuộc khu 4, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương thì bị tổ công tác thuộc lực lượng Công an huyện Thanh Hà phát hiện bắt giữ. Trong quá trình bị bắt giữ, T ném 01 gói ma túy vừa mua được từ lòng bàn tay phải xuống vị trí chân T đang đứng. Công an huyện Thanh Hà thu giữ tại vị trí dưới chân T đang đứng 01 gói giấy màu bạc, kích thước (01 x 01)cm bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Thu giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu vietthai màu xanh, biển số 34AA-115.16; thu giữ tại túi áo khoác bên phải của T 01 bơm kim tiêm và 01 ống nước cất chưa sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 153/KLGĐ-KTHS ngày 14/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong gói giấy màu bạc được niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Văn T, gửi đến giám định khối lượng 0,199g là ma túy, loại Heroin. Trả lại 0,150g ma túy loại Heroin; 01 mảnh giấy màu bạc và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

Bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 30/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 - 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 11/02/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy: 0,150g ma túy loại Heroin hoàn lại sau giám định, 01 mảnh giấy màu bạc, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, 01 bơm kim tiêm và 01 ống nước cất chưa qua sử dụng. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 20 giờ 15 phút ngày 11/02/2023, tại đoạn đường 390 thuộc khu 4, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,199g Heroin để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện Thanh Hà phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu: Năm 2005, bị Công an tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Năm 2009 và năm 2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu vietthai màu xanh, biển số 34AA-115.16 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Lê Thị Thanh H, không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hà là phù hợp nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

- 0,150g ma túy loại Heroin hoàn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh giấy màu bạc, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, 01 bơm kim tiêm và 01 ống nước cất chưa qua sử dụng không có giá trị sử dụng, do vậy, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được cụ thể họ tên, địa chỉ của người này. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 11/02/2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy:

- 0,150g ma túy loại Heroin hoàn lại sau giám định, 01 mảnh giấy màu bạc, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được hoàn lại trong phong bì niêm phong vật chứng số 153/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương;

- 01 bơm kim tiêm và 01 ống nước cất chưa qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/4/2023 giữa Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ