vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 24/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo DƢƠNG TRƢỜNG A, NGUYỄN MINH T, Nông Văn G phạm tội “Cƣỡng đoạt tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DƯƠNG TRƯỜNG A, NGUYỄN MINH T, Nông Văn G phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26 /2023/HS-ST
Ngày: 24 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Nguyễn Hồng Thăng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thƣ ký Tòa án nhân dân

huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

tham gia phiên tòa: Ông Lƣu Nguyên Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại Hội trƣờng xét xử Tòa án nhân dân

huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/TLST-HS, ngày 13/01/2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 13/02/2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: DƯƠNG TRƯỜNG A, sinh năm 2000 tại tỉnh Thái Nguyên;

tên gọi khác: không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: TDP T, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Văn T, sinh năm 1975, con bà Dƣơng Thị S, sinh năm 1976. Vợ, con: Chƣa có. Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/11/2022 bị Công an P ra Quyết định xử phạt vi

phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thƣơng tích, mức phạt 6.500.000 đồng.

- Ngày 14/7/2022 bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Nguyên khởi tố

bị can để tạm giam về tội “Giết ngƣời”.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên

trong vụ án khác.

(Có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: NGUYỄN MINH T, sinh năm 2001 tại tỉnh Thái Nguyên; tên

gọi khác: không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Vo, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; họ tên bố: Không xác định đƣợc, con bà Nguyễn Thị Doan, sinh năm 1968; Vợ, con: Chƣa có. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: - Ngày 12/4/2021, Công an huyện P tỉnh Thái Nguyên xử

phạt vi phạm hành chính – phạt tiền về hành vi không giao nộp vũ khí, đã chấp hành xong.

- Ngày 16/11/2022 bị Công an P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành

chính về hành vi Cố ý gây thƣơng tích, mức phạt 6.500.000 đồng.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại

tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

3. Họ và tên: NÔNG VĂN G, sinh năm 2002 tại tỉnh Thái Nguyên; tên gọi

khác: không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Hòa Lâm, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn Bảo, sinh năm 1979, con bà Phạm Thị Hồng, sinh năm 1981; Vợ, con: Chƣa có. Gia đình bị cáo có hai chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: - Ngày 16/11/2022 bị Công an P ra Quyết định xử phạt vi phạm

hành chính về hành vi Cố ý gây thƣơng tích, mức phạt 6.500.000 đồng.

- Ngày 14/7/2022 bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Nguyên khởi tố

bị can để tạm giam về tội “Giết ngƣời”.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên

trong vụ án khác.

(Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Anh Đỗ Văn Q, sinh ngày 22/12/2005

Người đại diện hợp pháp cho anh Q: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1980

Địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Anh Q và bà Đ đều có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1980

Địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Có mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng:

1. Anh Dƣơng Việt H, sinh năm 2002

Địa chỉ: TDP T, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

2. Anh Hoàng Kim L, sinh năm 1980

Địa chỉ: Tổ 1, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Vắng mặt tại phiên tòa).

3. Anh Vi Văn S, sinh năm 2005

Đại chỉ: Xóm Na Bì, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Vắng mặt tại phiên tòa).

4. Chị Lê Thị Kim N, sinh năm 2005

Ngƣời đại diện hợp pháp của chị N: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1982

Địa chỉ: Xóm N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại

phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

DƢƠNG TRƢỜNG A, sinh năm 2000, trú tại tổ dân phố T, thị trấn H,

huyện P, tỉnh Thái Nguyên thuê nhà của anh Trần Vƣơng A, sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố Ú, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để ở, phục vụ nhân viên nữ cho các quán Karaoke và giao dịch cho vay tiền, Trƣờng A thuê NGUYỄN MINH T, sinh năm 2001, trú tại xóm Vo, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên và Nông Văn G, sinh năm 2002, trú tại xóm Hòa Lâm, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên cho vay tiền và thu tiền gốc, lãi các khoản tiền cho vay. Ngày 01/6/2022, anh Đỗ Văn Q, sinh ngày 22 tháng 12 năm 2005, trú tại xóm C, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên gọi điện cho T hỏi vay số tiền là 3.000.000 đồng thì T đồng ý và bảo anh Q đến gặp G để vay tiền. Sau đó, T gọi điện cho G nói “Tí thẳng Q đến vay tiền thì cho nó vay", G đồng ý. Khoảng 10 giờ cùng ngày anh Q đi một mình đến nơi T, G và Trƣờng A ở trọ gặp G để lại căn cƣớc công dân, viết giấy vay nợ số tiền 3.000.000 đồng thì G bảo anh Q trả luôn tiền lãi rồi chuyển khoản tiền cho anh Q vay. Hết thời gian một tháng nhƣng không thấy anh Q trả tiền nên T đã nhiều lần gọi điện cho anh Q nhƣng do không có tiền trả nên anh Q khất và không nghe máy. Khoảng 16 giờ ngày 04/7/2022, Trƣờng A cùng T và Dƣơng Việt H, sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố T, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên cũng là ngƣời làm thuê cho Trƣờng A đến nhà anh Q để đòi tiền. Khi thấy nhóm của Trƣờng A đến, do không có tiền trả nợ nên anh Q đã bỏ chạy thì nhóm của Trƣờng A ra về. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 06/7/2022, Trƣờng A nói với T là ném chất bẩn vào nhà anh Q (ý của Trƣờng A là lợi dụng đêm tối để ném hỗn hợp dầu thải động cơ trộn lẫn với mắm tôm đựng trong chai thủy tinh vào nhà Q) khiến chai bị vỡ, gây tiếng động, hỗn hợp dầu và mắm tôm văng dính gây mùi khó chịu, khó cọ rửa uy hiếp tinh thần khiến anh Q lo sợ phải trả tiền. Sau đó T nói với G “Anh Trƣờng A bảo đêm vào nhà thằng Q ném luyn” ý là ném chất bẩn vào nhà anh Q để uy hiếp tinh thần đòi tiền thì G đồng ý. T đi mua mắm tôm và đến cửa hàng sửa chữa xe mô tô của anh Hoàng Kim L, sinh năm 1987, trú tại tổ 1, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên xin 3 lít dầu thải động cơ về cùng G pha trộn với mắm tôm rót vào 04 vỏ chai bia Hà Nội để tối mang đi ném vào nhà anh Q. Khoảng hơn 01 giờ ngày 07/7/2022, G điều khiển xe mô tô chở T cầm theo 4 chai thủy tinh chứa hỗn hợp dầu thải và mắm tôm đi vào nhà anh Q. Khi đến đầu ngõ thì G dừng xe, tắt máy và dựng xe ở lề đƣờng, cả hai xuống xe thì T đƣa 2 chai thủy tinh chứa hỗn hợp dầu thải và mắm tôm cho G còn T cầm 2 chai đi đến gần cổng ném vào khu vực hiên và mái tôn lợp chống nắng ở hiên nhà anh Q khiến 4 chai thủy tinh bị vỡ, hỗn hợp dầu thải, mắm tôm bắn, bám vào tƣờng, mái tôn, sân nhà, ném xong G và T đi về. Lo sợ sẽ tiếp tục bị ném chất bẩn vào nhà nên ngày 12/7/2022 anh Q đã nhờ bạn là Vi Văn S, sinh năm 2005, trú tại xóm Na Bì, xã T, huyện P đến quầy của Trƣờng A đƣa tiền cho Hƣng để trả tiền đã vay. Ngày 13/7/2022, anh Q có đơn trình báo sự việc đến Công an xã T để nghị giải quyết về việc bị ném chất bẩn vào nhà đêm ngày 07/7/2022, vụ việc đƣợc chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để xác minh theo thẩm Q.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo DƢƠNG TRƢỜNG A, Nông Văn G

và NGUYỄN MINH T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nội dung đơn trình báo của bị hại; biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ hiện trƣờng; vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, ngƣời có Q lợi nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập đƣợc có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án là: 01 bao tải dứa chứa nhiều mảnh vỡ của vỏ chai thủy

tinh, 02 quần vải; 02 áo vải bám dính hỗn hợp dầu thải và mắm tôm niêm phong trong hộp cattong ký hiệu H thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trƣờng vụ việc đã đƣợc nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 22/CT-VKSPB, ngày 04/01/2023 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo DƢƠNG TRƢỜNG A, NGUYỄN MINH T và Nông Văn G về tội: “Cƣỡng đoạt tài sản”, theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, trong phần tranh luận vị đại diện Viện Kiểm sát

nhân dân huyện P đã trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo DƢƠNG TRƢỜNG A, NGUYỄN MINH T và

Nông Văn G phạm tội: “Cƣỡng đoạt tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38;

Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo DƢƠNG TRƢỜNG A từ 18 đến 24 tháng tù; NGUYỄN MINH T từ 15 đến 18 tháng tù; Nông Văn G từ 15 đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời

có Q lợi, nghĩa vụ liên quan tự nguyện không yêu cầu các bị cáo phải bồi thƣờng gì nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy những vật chứng không có giá

trị sử dụng: 01 bao tải dứa chứa nhiều mảnh vỡ của vỏ chai thủy tinh, 02 quần vải; 02 áo vải bám dính hỗn hợp dầu thải và mắm tôm niêm phong trong hộp cattong ký hiệu H.

Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nƣớc, các

bị cáo, bị hại, ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại và ngƣời có Q lợi, nghĩa vụ liên quan đƣợc Q kháng cáo bản án theo quy định.

Trong phần tranh luận, các bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không

oan, đúng ngƣời, đúng tội. Bị hại, ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại và ngƣời có Q lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình

phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P;

Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện P; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm Q, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai

nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của bị hại; ngƣời tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Ngày 01/6/2022, anh Đỗ Văn Q vay số tiền 3.000.000 đồng của DƢƠNG

TRƢỜNG A trong thời hạn 01 tháng qua NGUYỄN MINH T và Nông Văn G là ngƣời làm thuê cho Trƣờng A. Hết thời hạn vay, T đã nhiều lần yêu cầu Q trả tiền và đã có hành vi dùng điện thoại nhắn tin đe dọa nhƣng anh Q không có tiền để trả. DƢƠNG TRƢỜNG A đã bàn bạc với NGUYỄN MINH T, T rủ Nông Văn G thực hiện việc ném hỗn hợp dầu thải động cơ trộn với mắm tôm đựng trong chai thủy tinh vào nhà anh Q uy hiếp tinh thần của anh Q để đòi nợ. Khoảng 01 giờ ngày 07/7/2022, Nông Văn G điều khiển xe mô tô chở NGUYỄN MINH T mang theo 04 chai thủy tinh đựng dầu thải và mắm tôm trộn lẫn đến nhà Q ném vào khu vực mái tôn trƣớc hiên nhà khiến chai bị vỡ gây tiếng động lớn, hỗn hợp dầu thải và mắm tôm bắn dính vào mái tôn, hiên nhà và tƣờng nhà anh Q để uy hiếp, gây trạng thái tâm lý lo sợ cho anh Q nên ngày 12/7/2022 anh Q đã trả tiền cho Trƣờng A.

Nhƣ vậy, hành vi của DƢƠNG TRƢỜNG A, NGUYỄN MINH T và

Nông Văn G đã đủ yếu tố cấu thành tội Cƣỡng đoạt tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự quy định nhƣ sau:

“1. Người nào đe dọa dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh

thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các

tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo không chỉ xâm

phạm đến Q sở hữu tài sản của cá nhân đƣợc pháp luật bảo vệ mà còn gây hoang mang, lo lắng cho ngƣời dân, gây ảnh hƣởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo là những ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nên buộc phải biết và nhận thức rõ hành vi mang chai thủy tinh đựng dầu thải và mắm tôm trộn lẫn đến nhà anh Q, ném vào khu vực nhà ở của gia đình anh Q giữa đêm khuya khiến chai bị vỡ gây tiếng động lớn, dầu thải và mắm tôm bắn dính vào nhà ở, nhằm đe dọa, uy hiếp tinh thần của anh Q là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tác dụng giáo dục và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Xét nhân thân, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Mặc dù, các bị cáo

không có tiền án, tiền sự nhƣng cả ba bị cáo đều bị Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thƣơng tích vào ngày 16/11/2022; Bị cáo NGUYỄN MINH T đã bị Công an huyện P tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không giao nộp vũ khí vào ngày 12/4/2021; Các bị cáo DƢƠNG TRƢỜNG A và Nông Văn G đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên khởi tố, bắt tạm giam về tội “Giết ngƣời”. Nhƣ vậy, thể hiện các bị cáo đều là những ngƣời có nhân thân xấu và coi thƣờng pháp luật. Trong vụ án này bị cáo Anh là ngƣời khởi xƣớng, chỉ đạo các bị cáo T, G thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo Anh có vai trò cao hơn so với bị cáo T và G.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều

tra cũng nhƣ tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ thực sự ăn năn hối cải. Tại phiên tòa bị hại, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do vậy, các bị cáo đều đƣợc hƣởng các tính tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo không ai phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét nhân thân, tính chất, vai trò, các tình

tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án

và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, sống phụ thuộc gia đình và không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại và

ngƣời có Q lợi, nghĩa vụ liên quan tự nguyện không yêu cầu các bị cáo phải bồi thƣờng gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với việc NGUYỄN MINH T đến quán sửa xe máy của anh Hoàng

Kim L xin dầu thải của động cơ để về trộn với mắm tôm ném vào nhà anh Q nhƣng không nói cho anh Lệ biết là dùng vào việc ném vào nhà anh Q để uy hiếp đòi tiền, anh Lệ không biết việc T xin dầu thải để dùng vào mục đích trái pháp luật nên không xử lý đối với anh Lệ.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tƣ pháp: Đối với những vật

chứng không có giá trị sử dụng: 01 bao tải dứa chứa nhiều mảnh vỡ của vỏ chai thủy tinh, 02 quần vải; 02 áo vải bám dính hỗn hợp dầu thải và mắm tôm niêm phong trong hộp cattong ký hiệu H cần tịch thu tiêu hủy.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với các bị

cáo nhƣ đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, về mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Về bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ

luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo NGUYỄN MINH T với thời hạn 45 (Bốn mƣơi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ

Nhà nƣớc.

Về Q kháng cáo: Các bị cáo; bị hại; Ngƣời đại diện hợp pháp cho bị

hại; Ngƣời có Q lợi, nghĩa vụ liên quan đƣợc Q kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17;

Điều 58 của Bộ luật hình sự.

- Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 329

của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo DƢƠNG TRƢỜNG A, NGUYỄN

MINH T, Nông Văn G phạm tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo DƢƠNG TRƢỜNG A 18 (Mƣời tám) tháng tù. Thời hạn

chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Xử phạt bị cáo NGUYỄN MINH T 15 (Mƣời lăm) tháng tù. Thời hạn

chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/8/2021.

Xử phạt bị cáo Nông Văn G 15 (Mƣời lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành

hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Quyết định tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Ra Quyết định tạm giam

bị cáo NGUYỄN MINH T với thời hạn là 45 (Bốn mƣơi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao tải dứa màu trắng chứa nhiều mảnh vỡ

của vỏ chai thủy tinh, 02 quần vải; 02 áo vải bám dính hỗn hợp dầu thải và mắm tôm tất cả đƣợc niêm phong vào thùng cát tông dán kín có dấu đỏ ký hiệu H.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2023 giữa Công an

huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).

5. Về án phí: Buộc các bị cáo DƢƠNG TRƢỜNG A, NGUYỄN MINH

T, Nông Văn G mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nƣớc.

6. Về Q kháng cáo: Án xử công khai có mặt các bị cáo (DƢƠNG

TRƢỜNG A, NGUYỄN MINH T, Nông Văn G); Bị hại, Ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại, Ngƣời có Q lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có Q kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Trƣờng hợp bản án quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có Q thoả thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ