- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyên Thúy H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thúy H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 năm, tính từ ngày tuyên án, ngày 16/3/2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TAND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2023/HS-ST Ngày 16 tháng 3 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh và ông Lê Công Sỹ
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thúy H, sinh năm 1993, Tên gọi khác: Không, Giới tính: Nữ, Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Ng, xã T, huyê ̣n L, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn L , sinh năm 1969 và con bà Nguyễn Thi ̣ B (tức Nguyễn Thị L), sinh năm 1973; Bị cáo có chồng là Nguyễn Đức Th, sinh năm 1986 (đa ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, coñ nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
- Người bị hại: Chị Lê Việt M, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Nơi cư trú: TDP T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người làm chứng:
1. Chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
2. Anh Trịnh Quang H2, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số 133A, đường Ng, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 ngày 24/12/2022, bị cáo Nguyễn Thú y H, sinh năm 1993, trú tại thôn Ng, xã T, huyê ̣n L, tỉnh Bắc Giang đi taxi mô ̣t minh từ nhà đến cử a
̀ hàng quần áo MH có địa chỉ tại đườ ng Nguyễn Xuân L , thị trấn V, huyê ̣n L, tỉnh Bắc Giang do chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1989 ở thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang làm chủ, để mua quần áo. Khi đang xem quần áo, H thấy chị Lê Việt M, sinh năm 1996, trú tại tổ dân phố T , thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là khách đến mua quần áo) cở i chiếc áo khoác, vắt lên giá treo quần áo của cử a hàng rồi đi vào phòng thử đồ . Lúc này, H quan sát thấy bên trong túi áo khoác của chị M có một chiếc điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng Iphone màu vàng gold , nên đa nã ̉y sinh ý định lấy trộm chiếc điê ̣n thoa ̣i này. Lợi dụng lúc mọi người không để ý, H lấy một chiếc áo khoác màu trắng của cửa hàng trùm lên bàn tay trái của mình để ngụy trang, rồi đi đến vị trí để chiếc áo khoác có điện thoại trong túi, dùng tay trái lấy chiếc điê ̣n thoa ̣i từ túi chiếc áo khoác này cất vào túi xách của mình. Sau đó, H rời khỏi của hàng, đi bô ̣ đến một quán nước ở gần nhà văn hóa tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L, ngồi uống nướ c. Tại đây, H gọi điện nhờ bạn trai của mình là anh Trịnh Quang H2, sinh năm 1986, trú tại số 133A phố Ng, phườ ng V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đến thị trấn V đón H lên thành phố L (anh H2 lái xe khách đi qua địa bàn thị trấn V). Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, anh H2 đến điểm hẹn đón H lên chơi tại nhà mình ở thành phố La ̣ng Sơn.
Ngày 24/12/2022, Công an thị trấn V tiếp nhận đơn trình báo của chị Lê Việt M về việc chị M bị kẻ gian lấy cắp 01 chiếc điện thoại di động Iphone Xs tại cửa hàng quần áo MH ở đườ ng Nguyễn Xuân L , thị trấn V , huyê ̣n L, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 25/12/2022, H nhâ ̣n thấy hành vi trô ̣m cắp của mình là vi pha ̣m pháp luâ ̣t nên đa đến Công an thi ̣̃
trấn V đầu thu, khai nhâ ̣́
n hành vi pha ̣m tô ̣i của bản thân và giao nộp chiếc điện thoại Iphone Xs màu vàng gold đa lẫ ́y trô ̣m của chị Lê Việt M cho Công an thi ̣ trấn V . Cùng ngày, Công an thi ̣ trấ n V đã bàn giao H và vật chứng cùng tài liệu có liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L giải quyết theo thẩm quyền.
Trong các ngày 28/12/2022 và 31/01/2023, Cơ quan điều tra tiến hành trích xuất và công khai dữ liệu điện tử thu từ camera an ninh của cử a hàng quần áo M H, kết quả xác định: dữ liệu video của camera an ninh có ghi lại hình ảnh H trộm cắp điện thoại của chị M ngày 24/12/2022.
Tại Kết luận định giá tài sản số 116/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lạng Giang kết luận: 01 chiếc điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng Iphone XS, màu vàng của chị Lê Việt M có giá 4.500.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thúy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 14/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thúy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan.
Tại phiên tòa, người bị hại là chị Lê Việt M vắng mặt nhưng các lời khai đã trình bày: Khoảng 13 giờ ngày 24/12/2022, chị từ nhà đến shop quần áo MH tại kiot 10, đường Nguyễn Xuân L, thị trấn V để mua quần áo. Tại đây, chị cởi áo khoác đang mặc ra vắt ở giá treo quần áo và đi vào khu vực thử đồ. Bên trong áo khoác chị có để 01 chiếc điện thoại Iphone XS màu vàng gold trong túi áo. Sau khi thử đồ xong, chị phát hiện bị kẻ gian lấy mất điện thoại nên chị đã làm đơn trình báo Công an thị trấn V. Sau này, chị được biết bị cáo H là người lấy điện thoại của chị. Nay, chị đã nhận lại điện thoại, chiếc điện thoại không có hư hỏng gì, chị không yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
Ngườ i làm chứ ng vắng mặt tại phiên tòa nhưng các tài liệu có trong hồ sơ đã khai rõ diễn biến họ đã nghe, biết về sự việc.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viểm kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thúy H từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và về vật chứng: Không đề nghị giải quyết.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, sau phần xét hỏi và tranh luận, bị cáo nhất trí với lời khai của người bị hại, người làm chứng và không có ý kiến gì tranh luận đối với đại diện VKSND huyện La ̣ng Giang. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai trái, là vi phạm pháp luật. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xác định đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại, cụ thể:
Khoảng 13 giờ ngày 24/12/2022, tại cửa hàng quần áo MH ở đườ ng Nguyễn Xuân L, thị trấn V, huyê ̣n L, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Nguyễn Thúy H có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Lê Thị Việt M 01 (một) chiếc điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng Iphone Xs, đa qua sữ
̉ du ̣ng , màu vàng, số máy: MTAQ2LL/A, số Seri: C39XC943KPFW, số IMEI 1: 357206091427999, số IMEI 2: 357206091229809 trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người người làm chứng, các Biên bản về việc kiểm tra dữ liệu điện tử thông qua trích xuất camera của cửa hàng quần áo MH, cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng Iphone XS, đa qua sữ
̉ dụng, màu vàng trị giá 4.500.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an ninh, xã hội tại địa phương. Do đó, việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, HĐXX cũng xét thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu do bột phát và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra rất ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị hại đã nhận lại được tài sản và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy phạt bị cáo với mức án như đại diện VKSND huyện đề nghị ở tại phiên tòa và cho bị cáo được hưởng chế định án treo, không cần thiết bắt cách ly xã hội là phù hợp và có căn cứ theo như Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích tư lợi, lẽ phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, HĐXX thấy: Bị cáo hiện không có công việc và thu nhập ổn định, lại đang nuôi 2 con nhỏ nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với anh anh Trịnh Quang H2 là người đưa Hoa từ thị trấn V, huyện L lên thành phố L, nhưng anh H2 không biết về hành vi phạm tội của H nên anh H2 không vi phạm pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại được tài sản là 01chiếc điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng Iphone XS , đa qua sữ
̉ du ̣ng , màu vàng trị giá 4.500.000 đồng, không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Ngày 03/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng Iphone Xs, màu vàng cho chị Lê Việt M, HĐXX xét thấy là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm i và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, các Điều 292, 293, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thúy H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 năm, tính từ ngày tuyên án, ngày 16/3/2023. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Thúy H cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Trách nhiệm dân sự và vật chứng: Không phải giải quyết.
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thúy H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Công an tỉnh Bắc Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lạng Giang; - Chi Cục THADS huyện Lạng Giang; - Công an huyện Lạng Giang; - UBND xã nơi bị cáo cư trú - Bị cáo và người TGTT; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thân Hồng Giang |